Nguyễn Tuân miêu tả ông lái đò như một vị tướng hiên ngang "tả xung hữu đột" trước muôn trùng sóng nước của sông Đà. Ông là người rất dũng cảm biết chịu cái đau của thể xác do vật lộn với sóng to gió lớn để chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo và vô cùng chuẩn xác.
Chính xác, quê ông ở Hà Nội Chính xác, quê ông ở Hà Nội Nguyễn Tuân (1910-1987) là nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam với sở trường về tùy bút và ký. Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho, quê ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Gợi ý làm bài: Câu 1: a) Cuộc đời - Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), hiệu Quế Sơn, sinh tại Nam Định nhưng sống chủ yếu ở Hà Nam. - Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, học giỏi, đỗ đầu trong ba kì thi (thi Hương, thi Hội, thi Đình) nên được người đời gọi là Tam nguyên Yên Đổ. - Làm quan hơn 10 năm sau đó từ quan về quê ở ẩn.
Trước cách mạng, Nguyễn Tuân một mình với chiếc vali, đã bôn ba trên nhiều miền quê của đất nước nhưng với tâm trạng của một kẻ "thiếu quê hương", bất mãn với cuộc đời. Đó cũng là tâm trạng chung của thời đại lúc bấy giờ.
Nguyễn Tuân (May 10, 1910 - July 28, 1987) is a renowned Vietnamese author. His early works, such as Thiếu Quê Hương (Without a Homeland), depict a strong character yearning for change and adventure, to learn about the world outside one's comfort zone, and to improve oneself.
3ziEljO. Abstract Trân trọng giới thiệu tiểu thuyết Thiếu Quê Hương của tác giả Nguyễn Tuân. Mời các bạn cùng tham khảo.
Nguyễn Tuân là gương mặt nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Với vốn tri thức uyên bác cùng tài năng nghệ thuật bậc thầy, Nguyễn Tuân đã để lại rất nhiều những tác phẩm có giá trị cho nền văn học Việt Nam. Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân dưới đây sẽ cung cấp thêm những hiểu biết cho người học về tác gia tiêu biểu đang xem Giới thiệu về nguyễn tuân1. Vài nét về tiểu sử con ngườiNguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã suy tàn. Quê ông ở làng Nhân Mục thường gọi nôm là làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Thân sinh của nhà văn là cụ Nguyễn An Lan tức cụ Tú Hải Văn, “một nhà nho tài hoa đậu thi khoa Hán học cuối cùng, rồi suốt đời ôm nỗi bất đắc chí trong cảnh đi làm một viên chức nhỏ ở tòa sứ các tỉnh dưới chế độ thuộc địa của Tây”. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tuân “đã được nuôi trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, với những phong tục nề nếp, với cách ăn ở vui chơi từ một thời xưa đang tàn dần và biến đổi, ngổn ngang vì sự xâm nhập của văn minh máy móc và hàng hóa từ phương Tây ào đến”. Hoàn cảnh gia đình và môi trường ấy đã có ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng, cá tính và sáng tác của nhà văn sau thiệu về tác giả Nguyễn Tuân- người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹpNguyễn Tuân tuy quê ở Hà Nội nhưng từ nhỏ ông đã theo gia đình cụ Nguyễn An Lan làm thư kí Tòa sứ sống nhiều năm ở các tỉnh và thành phố miền Trung như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa. Chính hoàn cảnh sống của gia đình đã tạo điều kiện cho ông ngay từ thời niên thiếu đã được “xê dịch” qua nhiều nơi. Những vùng đất nói trên, đặc biệt là Thanh Hóa nơi lâu nhất, đã để lại nhiều dấu ấn trong những trang viết về đề tài “chủ nghĩa xê dịch” của Tuân học đến cuối bậc Thành chung tương đương với bậc Trung học cơ sở hiện nay ở thành phố Nam Định, đến năm 1929 thì bị đuổi học và không được nhận vào bất cứ công sở nào vì tham gia vào một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Tuân đến với cách mạng và tham gia kháng chiến, trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Năm 1950, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông mất ngày 28 tháng 7 năm 1987 tại Hà Quá trình sáng tác và thành tựu văn họca. Thời kì trước Cách mạng Tháng Tám 1945Nguyễn Tuân bắt đầu sáng tác từ những năm 30 của thế kỉ XX. Trước cách mạng sáng tác của ông chủ yếu xoay quanh ba đề tài “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóng một thời”, và đời sống trụy lạc. Cá tính cùng với tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc của Nguyễn Tuân đã khiến ông tìm lối thoát trong cái thú giang hồ, xê dịch. “chủ nghĩ xê dịch” trở thành một đề tài quen thuộc trong các sáng tác trước cách mạng của Nguyễn Tuân, xuyên suốt qua các tác phẩm Một chuyến đi, Thiếu quê hương, Tùy bút I, Tùy bút truyện Vang bóng một thời 1940 và tùy bút Tóc chị Hoài 1943… là những tác phẩm viết về đề tài vẻ đẹp “vang bóng một thời”. Vang bóng một thời gồm 11 truyện ngắn lần lượt đăng trên các tạp chí Tao đàn và Tiểu thuyết thứ bảy từ năm 1939, Nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội in lần đầu năm 1940. Vang bóng một thời thuộc xu hướng thoát li, hoài cổ phát triển khá mạnh mẽ, nhất là từ năm 1939 đến 1945 trong bộ phận văn học công Thời kì sau Cách mạng tháng Tám 1945Vào những ngày cuối cùng của chế độ thuộc địa Pháp và Nhật, cũng như nhiều nghệ sĩ lúc bấy giờ, Nguyễn Tuân rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về quan điểm nghệ thuật. Ông không viết được nữa. Chính Cách mạng Tháng Tám đã giúp Nguyễn Tuân thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống và trong sáng tác nghệ thuật, đem đến cho ông một nguồn cảm hứng sáng tạo mới. Nguyễn Tuân đã hồi sinh, say mê trong niềm vui lớn của đất nước. Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng chiến, hăng hái đi thực tế, dùng ngòi bút để ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu và trong lao động sản xuất. Nếu như nhân vật trung tâm trong tác phẩm trước cách mạng là những ông Nghè, ông Cử, ông Tú, những con người tài hoa bất đắc chí, thì giờ đây, hình tượng chính trong sáng tác của ông là nhân dân lao động và chiến sĩ trên mặt trận vũ trang, những con người bình thường mà vĩ đại Đường vui 1949, Tình chiến dịch 1950, Tùy bút kháng chiến và hòa bình tập I – 1955, tập II – 1956, Sông Đà 1960, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi 1972,.. đánh dấu những chặng đường mới của Nguyễn Tuân trên con đường nghệ thuật gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất Phong cách nghệ thuậtNguyễn Tuân là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo. Môi trường, hoàn cảnh sống và cá tính của Nguyễn Tuân thời kì trước cách mạng đương nhiên đưa ông đến con đường nghệ thuật lãng mạn chủ nhỏ, Nguyễn Tuân được nuôi dưỡng trong nền văn hóa cổ truyền dân tộc với những phong tục đẹp, những nề nếp, cách ứng xử giữa người với người đầy nghi lễ và có văn hóa, với cách ăn ở vui chơi từ một thời xa xưa đang tàn dần do thời thế đổi thay. Chính điều đó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn Nguyễn Tuân và đến khi ông cầm bút đã góp phần tạo nên cái nhìn độc đáo của ông đối với con người và cuộc sống. Nguyễn Tuân là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái nhìn văn hóa là một nét bền vững của phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Trước cách mạng, tuy tự nhìn nhận mình là một kẻ giang hồ, nhưng chỉ khi viết về cái đẹp “vang bóng một thời”, vẻ đẹp của cái xưa cũ, vẻ đẹp của phong cảnh quê hương đất nước, viết về những gì thuộc về dân tộc, ngòi bút ông mới thật sự tài hoa, tinh vi và sâu Tuân là một cây bút tài hoa và uyên bác. Tài hoa trong việc dựng người, dựng cảnh, tài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, trong những so sánh, liên tưởng táo bạo, bất ngờ với những hình ảnh đẹp đầy gợi cảm; uyên bác trong việc vận dụng những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để làm phong phú và giàu có thêm khả năng diễn tả của nghệ thuật văn Tuân là người có cá tính mạnh mẽ, có lối sống tự do phóng túng và sự ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tùy bút như một điều tất Tuân là một trong những bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại. Ông có một kho từ vựng phong phú, có khả năng tổ chức câu văn xuôi giàu giá trị tạo hình, có nhạc điệu và biết “co duỗi nhịp nhàng”.4. Kết luậnVới gần năm mươi năm hoạt động văn học liên tục, bằng ngòi bút đầy tài năng của mình, Nguyễn Tuân đã có những đóng góp to lớn, có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi văn Việt Nam hiện đại một phong cách tài hoa và độc nhâncon đườngcon ngườicuộc sốnggia đìnhgiới thiệuhiện đạihiện nayhòa bìnhlao độnglối sốngmôi trườngnguyễn tuânquan điểmquê hươngSông Đàvăn họcvăn minh
Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn TuânTiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân được VnDoc tổng hợp trong bài viết dưới đây, giúp các em không chỉ hiểu rõ về nhà văn mà còn nắm được phong cách sáng tác, hỗ trợ quá trình tìm hiểu các tác phẩm nổi tiếng Nguyễn Tuân trong quá trình học tốt môn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy. Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua… Trong bài viết này VnDoc sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp sáng tác cũng như tìm hiểu những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Tuân trong chương trình học môn Ngữ tắt lý lịch Nguyễn TuânNguyễn Tuân 1910 – 1987 ông sinh ra và lớn lên tại thành phố Hà Nội. Là một nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam, sở trường của ông là thể loại tùy bút và ký, ông nổi tiếng là bậc thầy trong việc sử dụng và sáng tạo tiếng Tuân trưởng thành trong một nhà Nho khi Hán học đã suy tàn. Cha của ông tên Nguyễn An Lan – một nhà nho tài hoa và yêu nước sống dưới chế độ thực dân phong kiến. Ngay từ lúc nhỏ Nguyễn Tuân đã chịu ảnh hưởng rất nhiều từ cha của mình. Thời niên thiếu cuộc sống gia đình của Nguyễn Tuân rất vất vả thế nên ông phải di cư đi nhiều tỉnh khác nhau và nơi ông sống lâu nhất là Thanh ra trong thời kì nước mất nhà tan thế nên Nguyễn Tuân đã ý thức rất sớm về lòng yêu quê hương, đất nước. Khi ông học đến cuối bậc Thành chung Nam Định tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay, tiền thân của trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định ngày nay thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt 1929. Và rồi ông phải đi tù, sau khi ra tù Nguyễn Tuân bén duyên với sự nghiệp viết lách và ông bắt đầu sáng Tuân bắt đầu cầm bút từ những năm 1935 cho đến 1938 thì mới bắt đầu nổi tiếng từ các tác phẩm như Vang bóng một thời, Một chuyến đi,…Tiểu sử nhà văn Nguyễn TuânNguyễn Tuân là một nhà văn nổi tiếng, ông được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng Tiếng Việt. Trong các tác phẩm hầu hết thuộc thể loại tùy bút và kí, đây cũng chính là thế mạnh của ông. Phong cách văn chương của Nguyễn Tuân mang một chút độc đáo và phong phú trong ngôn ngữ. Nhà văn Nguyễn Tuân còn sử dụng một số bút danh khác để sáng tác như Nhất Lang, Thanh Thuỷ, Ngột Lôi Quật, Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc, Thanh Hà, Ngột Lôi văn Nguyễn Tuân bắt đầu sáng tác từ năm 1935, tuy nhiên các tác phẩm của ông chưa được đánh giá cao. Cho đến năm 1938, Nguyễn Tuân mới gây ấn tượng với một số tác phẩm xuất sắc, điển hình là Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua, Một chuyến cách sáng tác của Nguyễn Tuân chia thành hai giai đoạnTrước cách mạng tháng tám, phong cách sáng tác của ông được gói gọn trọng một chữ "Ngông".Sau cách mạng tháng tám, phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân đã có nhiều chuyển biến quan trọng. Các tác phẩm mang giá trị nghệ thuật cao, viết nhiều về đề tài quê hương đất nước, nhân dân lao động trong chiến đấu và sản 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật...Ông là một trong 9 tác giả tiêu biểu được đưa vào Sách giáo khoavăn học Việt Nam. Ngày nay, tên ông còn được đặt tên cho con đường ở Quận Thanh Xuân, Hà văn Nguyễn Tuân qua đời ngày 08/07/1987, tại Hà Nội, hưởng thọ 77 tác phẩm nổi tiếngNgọn đèn dầu lạc 1939Vang bóng một thời 1940Chiếc lư đồng mắt cua 1941Tàn đèn dầu lạc 1941Một chuyến đi 1938Tùy bút 1941Thiếu quê hương 1940Tóc chị Hoài 1943Tùy bút II 1943Nguyễn 1945Chùa Đàn 1946Đường vui 1949Tình chiến dịch 1950Thắng càn 1953Chú Giao làng Seo 1953Đi thăm Trung Hoa 1955Tùy bút kháng chiến 1955Tùy bút kháng chiến và hòa bình 1956Truyện một cái thuyền đất 1958Tùy bút Sông Đà 1960Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi 1972Ký 1976Tuyển tập Nguyễn Tuân tập I 1981Cảnh sắc và hương vị đất nước 1988Tú XươngYêu ngôn 2000, sau khi mấtKý Cô Tô 1965Nguyễn Tuân thời trẻÔng sinh ra trong một gia đình nhà Nho. Từ nhỏ, Nguyễn Tuân đã cùng gia đình đi “tha hương” ở nhiều nơi như Nam Định, Thanh Hoá và cả các tỉnh miền 1929, khi đang học năm cuối tại trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định ngày nay, thì Nguyễn Tuân bị nhà trường đuổi học, vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người lâu sau, ông bị tù vì vượt biên tới Thái Lan mà không có giấy phép. Ông được thả ra nhưng lại bị bắt vào năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt đây vừa gửi tới bạn đọc bài viết Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân. Chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của bài viết rồi đúng không ạ? Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm nhiều hiểu biết về nhà văn Nguyễn Tuân phẩm Người lái đò sông ĐàSoạn bài Người lái đò sông ĐàHoàn cảnh ra đời Người lái đò sông ĐàPhân tích những đặc sắc nghệ thuật trong Người lái đò Sông ĐàSơ đồ tư duy Người lái đò sông đàSơ lược Người lái đò sông đà Nguyễn TuânSoạn văn 12 bài Người lái đò sông ĐàGiải bài tập Ngữ văn lớp 12 Người lái đò sông đàTóm tắt tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn TuânPhân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
ArticlePDF Available AbstractAndré Gide là một trong số những tác giả nổi tiếng của văn học Pháp nói riêng, của văn học thế giới thế kỷ XX nói chung. “Bọn làm bạc giả”, tiểu thuyết duy nhất của ông, được xếp vào một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của thế kỷ XX. Trong tiểu thuyết này, André Gide đã giới thiệu một phương thức tự sự mới. Qua đó, cuộc sống hiện thực được tái hiện với tất cả sự phức tạp, đa diện, hỗn độn… của nó. Với những cống hiến giá trị này, Gide đã tạo một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của văn học thời kỳ hiện đại. Tiếp nhận, học hỏi văn học Pháp, rộng hơn là văn học phương Tây, Nguyễn Tuân đã tìm được nhiều điểm chung với André Gide. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 7, Số 4, 2017 461–477 461 PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRONG “BỌN LÀM BẠC GIẢ” CỦA ANDRÉ GIDE VÀ “THIẾU QUÊ HƯƠNG” CỦA NGUYỄN TUÂN TỪ GÓC NHÌN CẤU TRÚC LUẬN Trần Thị Bảo GiangaaKhoa Ngữ văn và Văn hóa học, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam Lịch sử bài báo Nhận ngày 12 tháng 07 năm 2017 Chỉnh sửa ngày 28 tháng 09 năm 2017 Chấp nhận đăng ngày 02 tháng 10 năm 2017 Tóm tắt André Gide là một trong số những tác giả nổi tiếng của văn học Pháp nói riêng, của văn học thế giới thế kỷ XX nói chung. “Bọn làm bạc giả”, tiểu thuyết duy nhất của ông, được xếp vào một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của thế kỷ XX. Trong tiểu thuyết này, André Gide đã giới thiệu một phương thức tự sự mới. Qua đó, cuộc sống hiện thực được tái hiện với tất cả sự phức tạp, đa diện, hỗn độn… của nó. Với những cống hiến giá trị này, Gide đã tạo một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của văn học thời kỳ hiện đại. Tiếp nhận, học hỏi văn học Pháp, rộng hơn là văn học phương Tây, Nguyễn Tuân đã tìm được nhiều điểm chung với André Gide. Từ khóa André Gide; Ảnh hưởng của văn học Pháp; Cấu trúc luận; Nguyễn Tuân; Phương thức tự sự. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Khi nhận thức của con người ngày một rộng mở, song hành với nó, văn chương nhân loại cũng hướng đến những khía cạnh phức tạp hơn, tinh tế hơn của cuộc sống. Các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ cũng dần đa chiều, đa nghĩa hơn. Mảng đề tài chứa đựng nhiều vỉa tầng cho sự khai thác nhất không còn tập trung vào quyền thế trong đời sống chính trị hay liên quan đến những giáo điều trong đời sống tinh thần ở phương diện xã hội mà được bắt rễ một cách sâu xa từ vô thức của cá nhân với tất cả những phức cảm đa dạng, thầm kín của nó cùng những ham muốn ẩn ức luôn khao khát sự khai mở để trở thành hữu thức. Từ đó, người nghệ sỹ ngôn từ luôn bị thôi thúc dấn thân vào quá trình khám phá vũ trụ hiện tượng luận hiện sinh của con người với bao lo âu, đam mê, thỏa mãn, tính dục, ghen tuông, tị hiềm, bệnh hoạn,… Cũng từ đó, người nghệ sỹ ngôn từ còn Tác giả liên hệ Email giangttb 462 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] đồng thời khao khát tìm đến và tinh tạo những thủ pháp nghệ thuật cùng bao phương thức tư duy mới để xây dựng được những sản phẩm mang giá trị thẩm mỹ đích thực. Với Bọn làm bạc giả Les Faux-monnayeurs, André Gide André Paul Guillaume Gide, 1869 - 1951, tác giả văn học Pháp thế kỷ XX, giải thưởng Nobel về văn học năm 1947 đã chuyển tải khá trọn vẹn những cách tân trong phương thức tự sự the method of narrative- dưới góc độ bài viết này, chúng tôi quan niệm phương thức tự sự như một thủ pháp nghệ thuật và sự khảo sát sẽ được dựa trên lý thuyết tự sự học kinh điển Tự sự học kết hợp với thi pháp, cấu trúc và ký hiệu, đặc biệt dưới góc nhìn cấu trúc luận structuralism, để trước tiên, như một quy luật tất yếu, chuyển tải không khí mới của thời đại và sau nữa là đáp ứng nhu cầu thưởng thức ngày càng khắt khe của độc giả. Những cách tân ấy dấy lên một làn sóng ảnh hưởng nhất định và sức lan tỏa của nó đã sớm đến với Nguyễn Tuân 1910 - 1987 của Việt Nam. Dẫu còn nhiều ý kiến trái chiều về dấu hiệu cụ thể của những ảnh hưởng từ văn học Pháp nói chung, từ André Gide nói riêng đến những sáng tác của Nguyễn Tuân nhưng trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi nhận thấy với Bọn làm bạc giả và Thiếu quê hương, André Gide và Nguyễn Tuân đã có rất nhiều sự “gặp gỡ” từ việc xây dựng những “tuyến chính”, “tuyến phụ” trong tác phẩm đến những kết cấu mới lạ; Từ cách chọn điểm nhìn trần thuật, quan điểm trần thuật độc đáo đến lối viết tự thuật đặc trưng;… và chúng tôi xem đó như những “tín hiệu” mang tính gợi mở những hướng nghiên cứu mới. 2. NHỮNG CÁCH TÂN PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRUYỀN THỐNG Trước hết, có thể thấy việc xếp Bọn làm bạc giả của André Gide vào danh sách những tiểu thuyết “khó đọc” của văn học thế giới đầu thế kỷ XX là điều không thể phủ nhận. Vậy phải chăng nhận xét “khó đọc” mà độc giả dành cho tác phẩm xuất phát từ sự khác lạ trong kết cấu, trong bố cục, trong những tình huống, tình tiết truyện ở một khía cạnh nhất định, có thể đồng quy với phạm trù cái biểu đạt signifiant so với những tác phẩm khác? “Tiểu thuyết trong các tiểu thuyết”, “tiểu thuyết của nhiều tiểu thuyết”, “phản tiểu thuyết”, “nghịch tiểu thuyết” là những đúc kết của các nhà nghiên cứu phê bình văn học về Bọn làm bạc giả, đồng thời đó cũng là quá trình hiện thực hóa bao khao khát của André Trần Thị Bảo Giang 463 Gide được chuyển tải trong tác phẩm của mình những nhân vật cùng bao mối quan hệ đan xen, chồng chéo; Dồn nén, chồng chất tình huống để tạo nên bố cục nhiều tầng, nhiều tuyến. Có thể khẳng định, André Gide đã xây dựng thành công hàng loạt những “câu chuyện đúp”, những “số phận đúp” trong Bọn làm bạc giả. Chúng tôi tạm sơ đồ hóa tác phẩm theo những “tuyến chính” như trong Hình 1. Hình 1. Cấu trúc tuyến chính trong Bọn làm bạc giả Bên cạnh việc cấu trúc “tuyến chính”, Bọn làm bạc giả còn hàng loạt những “tuyến phụ” khác nữa, kiểu như Bernard dần dần yêu Laura sau khi cùng Édouard giúp đỡ cô; De Passavant tán tỉnh Sarah em gái Laura để trêu tức Olivier; Boris chính là con ngoài giá thú của người con trai đã mất của ông giáo dạy nhạc già La Pérouse. Khi nhóm học sinh trung học thành lập Hội học sinh 464 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] can đảm, Boris muốn chứng tỏ dũng khí bằng cách tự bắn vào đầu, không may, khẩu súng hôm ấy chính là súng của La Pérouse lại được nạp đạn… Không chỉ có vậy, ngay trong tác phẩm, André Gide còn để nhân vật Édouard hóa thân như một bản ngã thứ hai của ông để thành kẻ chuẩn bị chấp bút viết một tiểu thuyết trùng tên Bọn làm bạc giả. Hay nói một cách khác, có đến hai Bọn làm bạc giả dưới góc độ là sáng tác văn chương và nhiều kiểu “bọn làm bạc giả” trong tác phẩm này. Hình 2. Cấu trúc tầng trong Bọn làm bạc giả Từ đó, có thể thấy với cấu trúc nhiều tầng, nhiều tuyến của tác phẩm, André Gide đã vận dụng linh hoạt yếu tố đại tự sự grand narrative trong sáng tác của ông. Ở Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân, nếu dựa vào yếu tố cấu trúc “tầng”, “tuyến” tương tự André Gide, ta có thể có sơ đồ như trong Hình 3. Nếu xem cốt truyện của Thiếu quê hương với những chuyến đi của Bạch, nhân vật trung tâm, là cái bất biến invariant thì những câu chuyện liên quan đến thầy Bạch, Dung, Hồ, Sương, Hòa…có thể xem như những biến dạng variant hay ở một phương diện tương tự, nếu xếp câu chuyện “đi” của Bạch vào một dạng cấu trúc trục thẳng đứng trục lựa chọn, paradigme thì trục ngang trục kết hợp, syntagme sẽ là những gì gắn với các nhân vật còn lại. Từ đó, cũng tương tự như trong Bọn làm bạc giả của André Gide, người đọc hoàn toàn có thể hình dung được những cấu trúc “tuyến chính” và “tuyến phụ” ở Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân như trong Hình 4. Trần Thị Bảo Giang 465 Hình 3. Cấu trúc tầng trong Thiếu quê hương Hình 4. Cấu trúc tuyến trong Thiếu quê hương 466 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] Ngoài ra, cũng dưới góc nhìn cấu trúc luận, phương thức tự sự của một tác phẩm văn xuôi còn thể hiện ở mặt kết cấu. Loại kết cấu xuất hiện phổ biến trong sáng tác của André Gide mà độc giả có thể dễ dàng nhận thấy, đó là kết cấu tổ hợp và kết cấu lồng ghép - yếu tố tạo thành tính chất “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”, “tiểu thuyết của tiểu thuyết”, “truyện trong truyện”… trong các sáng tác của ông. Hình 2 mà chúng tôi đã phác họa ở trên có thể xem là một minh chứng điển hình cho kiểu kết cấu tổ hợp và kết cấu lồng ghép trong tác phẩm của André Gide. Bọn làm bạc giả không chỉ đơn thuần là tên của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng, đồng thời cũng là duy nhất của André Gide, Bọn làm bạc giả còn đồng thời được dùng để đặt tên cho một tác phẩm chứa đựng đầy trăn trở của nhân vật nhà văn ngay trong chính câu chuyện Édouard, không những thế, “bọn làm bạc giả” còn ám chỉ trò chơi làm tiền giả đầy mạo hiểm và cũng không kém phần quái gở của lũ học sinh trong truyện và rồi “bọn làm bạc giả” còn được sử dụng để chỉ những kẻ lấy quyền thế, chức tước hay sự giàu có, xa hoa để che phủ, để lừa phỉnh, để băng hoại kẻ khác…Bên cạnh đó, “kết cấu gương soi” cũng là một điểm nhấn tạo thành sự mới lạ, độc đáo trong phương thức tự sự của André Gide ở Bọn làm bạc giả Hình 5. Nhân vật Boris đóng vai trò như một “tấm gương phản chiếu” để khi thấu thị, Bernard hiểu được cái giá của sự sống, của cuộc sống gia đình hay nói cách khác, chính cái chết dường như hoài phí, như vô nghĩa mà nguyên nhân sâu xa xuất phát từ sự lạnh nhạt trong mối quan hệ gia đình đã góp phần thức tỉnh Bernard, khiến anh quay về với mái ấm, nơi trước kia anh đã nhẫn tâm từ bỏ. Hình 5. Kết cấu gương soi trong Bọn làm bạc giả Trần Thị Bảo Giang 467 Những kết cấu này chúng ta cũng có thể hoàn toàn bắt gặp trong Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân dựa vào sơ đồ đồng dạng như Hình 6. Hình 6. Kết cấu gương soi trong Thiếu quê hương Nhân vật đảm nhận “tấm gương phản chiếu” chính là Dung, để khi nhìn vào, Bạch chạm đến sự ăn năn vì nhiều lúc Bạch đã tìm mọi cách ruồng rẫy Dung để thỏa mãn thú ngao du của mình. Cuối cùng sự nhẫn nhịn, hy sinh và đức hạnh của người vợ hiền đã kéo Bạch về với mái ấm, trở lại với cuộc sống trên chính quê hương. Không chỉ có vậy, sự mới lạ trong phương thức tự sự của André Gide ở Bọn làm bạc giả còn thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật và quan điểm trần thuật của ông. Đi vào nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật và quan điểm trần thuật trong Bọn làm bạc giả, chúng tôi có thể khẳng định sự cách tân phương thức tự sự nói riêng, cách tân nghệ thuật tiểu thuyết nói chung đã khiến André Gide cùng sáng tác của ông không còn ở vị trí “bên thềm” thời kỳ hiện đại mà chính thức nhập vào dòng chảy của quá trình đổi mới và hiện đại hóa văn xuôi tự sự phương Tây thế kỷ XX, XXI. Bởi lẽ, André Gide, trong tác phẩm của mình, đã tiếp cận, tiệm cận rồi sử dụng nhuần nhuyễn cách thức đa dạng hóa điểm nhìn nghệ thuật, pha trộn, lồng ghép, đan cài nhiều điểm nhìn nghệ thuật đây cũng là một trong số những thủ pháp quen thuộc của văn học hiện đại và xét ở một góc độ nhất định, của cả văn học hậu hiện đại. Có những đoạn trong Bọn làm bạc giả, tác giả đóng vai trò người kể chuyện biết có giới hạn ví dụ ở phần đầu của tiểu thuyết khi ông viết về Bernard nhưng lại có đoạn tác giả hóa thân thành một nhân vật chẳng hạn như những phần liên quan đến Édouard, Olivier… và cũng có lúc độc giả hình dung tác giả chỉ là một người 468 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] quan sát khi đề cập đến Vincent, Boris…. Không chỉ có vậy, câu chuyện trong tác phẩm còn đến với độc giả bởi nhiều hình thức tạo dựng khác nhau và ứng với mỗi hình thức ấy lại là một điểm nhìn, kiểu nhìn khác như Thông qua sự trần thuật của nhân vật, qua đối thoại giữa các nhân vật, qua những trang nhật ký của nhân vật, qua những lá thư trao đổi của các cặp nhân vật… Ngoài ra, chúng tôi thiết nghĩ, khi đề cập đến điểm nhìn nghệ thuật không thể bỏ qua việc tìm hiểu quá trình tổ chức trần thuật focus of narrative. Trong các tác phẩm thuộc thể loại tự sự, thông thường việc tổ chức trần thuậtđược phân loại thành hai phương pháp chính yếu Phương pháp toàn cảnh panoramic, ở đó các tác giả trực tiếp đưa vào tác phẩm những nhận xét, đánh giá của họ về các biến cố, sự kiện được miêu tả Dickens, Thackeray, Lev Tolstoi thường áp dụng phương pháp này; và Phương pháp kịch cảnh scenic là phương pháp mà các tác giả “hòa tan” vào điểm nhìn của nhân vật, hệ quả của phương pháp này là sự nhòe ranh giới giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật chúng ta có thể bắt gặp phương pháp này ở các tác phẩm của Flaubert, Henry James…. Tìm hiểu thế giới nghệ thuật của André Gide, chúng tôi nhận thấy đa phần các sáng tác của ông đều được dựa theo phương pháp thứ hai Phương pháp kịch cảnh trong quá trình tổ chức trần thuật. Do vậy, trong tác phẩm, cái nhìn của tác giả và cái nhìn của nhân vật thường hay đồng nhất. Từ đó, chúng tôi tạm định danh điểm nhìn nghệ thuật đa dạng, linh hoạt, với tiêu điểm, tiêu cự biến ảo, phân cách không ngừng trong Bọn làm bạc giả của André Gide là dạng “điểm nhìn vạn hoa”. Cũng chính vì sự phức tạp từ điểm nhìn nên ở tác phẩm liên tục có sự chồng chéo giữa “tường trình” và “tường thuật” chi phối phương thức tự sự hay nói cách khác, André Gide đã đóng góp thêm hướng đổi mới kỹ thuật tự sự thành “phương thức tự sự nhiều tầng”. Bên cạnh đó, ở bình diện quan điểm nghệ thuật, André Gide đã phần nào nghiêng về kiểu chọn quan điểm không tham dự, để rồi những sự kiện, những tình tiết và cả những nhân vật trong những câu chuyện của ông cứ thế lặng lẽ hiển hiện, lặng lẽ được trình diễn như từng hồi, từng lớp, từng cảnh của một vở kịch trên sân khấu cuộc đời và sự phán xét cuối cùng dành cho độc giả, để rồi tác phẩm của ông đến với sự tiếp nhận của độc giả theo mô hình của văn học hiện đại Hình 7. Trần Thị Bảo Giang 469 Hình 7. Mô hình tiếp nhận của văn học hiện đại Một điểm nhấn khác nữa trong những cách tân phương thức tự sự truyền thống của André Gide, đó là sự đảo lộn, dung hợp các phạm trù thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong Bọn làm bạc giả, hướng đến sự hỗn độn chaos và đôi khi là sự phức tạp complexity khi xây dựng cả hai phạm trù này. Vẫn hướng về những yếu tố thực tại khách quan nhưng André Gide đã tạo nên những giá trị nghệ thuật không đơn thuần xuất phát từ tinh thần nhận thức, phân tích, tái hiện hiện thực cuộc sống kiểu chủ nghĩa hiện thực mà những gì được tạo dựng trong sáng tác của ông còn thể hiện bao mâu thuẫn cực đoan trong tinh thần khi chống lại các nền tảng tư tưởng đã lỗi thời. Tác phẩm của ông còn liên quan đến tính chọn lọc cao về thẩm mỹ, về tính liên tưởng, tính ẩn dụ và đặc biệt là chúng góp phần khuấy động để nêu bật lên các vấn đề của con người, của cuộc đời. Ở Nguyễn Tuân, với Thiếu quê hương, chúng tôi nhận thấy tất cả những yếu tố trên đều ít nhiều xuất hiện. Thiếu quê hương cũng chất chứa lối viết văn tự thuật L’autographe như Bọn làm bạc giả. Ở Thiếu quê hương, độc giả cũng có thể thấy những điểm nhìn trần thuật đan xen, biến ảo của tác giả với quan điểm trần thuật không tham dự và kéo theo đó là bao sự dịch chuyển của thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong tác phẩm những yếu tố này, do những hạn chế nhất định của người viết nên chúng tôi mới chỉ tạm dừng ở định mức “nêu” chứ chưa thể toàn vẹn định mức “kiến giải” và tham vọng của chúng tôi là sẽ trở lại tìm hiểu vấn đề này kỹ càng hơn trong một nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Tuân. Như vậy, phải chăng, điều mà André Gide và cả Nguyễn Tuân cùng hướng đến chính là sự khát khao tác phẩm của họ thể hiện một thứ trật tự không có tính chu kỳ, thậm 470 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] chí là những thực thể tự phát tổ chức spontaneous self- organization để đạt đến cái đích cuối cùng xóa bỏ ranh giới giữa cuộc sống đời thường và cuộc sống nghệ thuật? 3. NHỮNG TIỀM NĂNG TẠO NGHĨA CỦA TÁC PHẨM Con đường lớn nhất của cuộc đời cũng như của văn chương là nhận thức. Thông qua những tác phẩm văn chương, hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, người đọc có thể tiếp cận được với cái nhìn thực tại hay tìm được những cách thức lý giải cuộc sống. Nếu như thế kỷ XVII, XVIII, XIX, ở phương Tây nói chung, ở Pháp nói riêng ghi nhận sự xuất hiện rồi dần dần mở rộng và tồn tại với uy thế phổ quát của chủ nghĩa duy lý cùng sự đề cao cái tôi tư duy le cogito của con người thì sang thế kỷ XX, khi khát khao tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn ngày càng bức thiết, khi nhu cầu tìm hiểu những khía cạnh tinh tế của đời sống ngày càng thôi thúc thì những tư tưởng duy lý cũ xưa không còn đủ khả năng đáp ứng nhận thức của con người trong việc khám phá những điều bí ẩn của thế giới. Do vậy, văn học phương Tây nói chung thời kỳ này còn gọi là văn học thời kỳ hiện đại đã có xu hướng khước từ việc trình bày, mô tả lại đời sống con người mà các nhà văn thường tập trung vào phát hiện những nghịch lý trong cuộc đời bởi nghệ thuật không chỉ đơn thuần là sự tái tạo ý nghĩa của sự vật, của đời sống mà nghệ thuật còn có thể bao quát sinh khí của đời sống với những yếu tố bất khả tri. Hơn nữa, khi người nghệ sỹ ngôn từ nhận ra rằng thế giới này phức tạp hơn những định kiến và những mô hình thống nhất sẵn có thì tác phẩm văn chương cũng đồng thời hướng đến việc “khước từ ý niệm về một sự kiện duy nhất có thể khu biệt, cô lập hóa” Richard, Chris, Ziauddin, & Patrick, 2006, tr. 17. André Gide và tác phẩm của ông không nằm ngoài quy luật ấy. Trong Bọn làm bạc giả, độc giả có thể dễ dàng nhận thấy tác giả đã thoát khỏi sự mệt mỏi trong vai trò của người kể chuyện điều này thường gặp trong văn chương một thời mà luôn chiếm thế chủ động trong vai trò của người tạo ra chuyện, tạo ra những hướng tiếp nhận khác nhau cho độc giả. Từ đó, tác phẩm của André Gide đầy ắp những yếu tố mang nhiệm vụ chuyên chở ý nghĩa chứ không hẳn chỉ đơn thuần là củng cố ý nghĩa, điều này, suy cho cùng, cũng đồng nghĩa với sự mở rộng phạm vi đến mức gần như không giới hạn của cái được biểu đạt signifié. Trần Thị Bảo Giang 471 Bi kịch của những đứa con ngoài giá thú; Sự đổ vỡ niềm tin trong các gia đình quyền quý, thế lực; Những mối tình dang dở vì phụ bạc, lừa lọc, lợi dụng, thủ đoạn; Thói ăn chơi sa đọa; Kiểu quý tộc rởm đời; Tình yêu đồng giới cùng bao sự ghen tuông, tị hiềm; Quan niệm về những giá trị văn chương đích thực; Những liệu pháp chữa bệnh tâm thần; Trò lưu hành tiền giả và mối nguy hại khôn lường của những đồng bạc giả về linh hồn, về tinh thần,… và còn rất nhiều điều khác nữa là những tầng ý nghĩa mà độc giả, vượt qua những “khoảng cách thẩm mỹ” aesthetische distanz, có thể tham chiếu từ Bọn làm bạc giả của André Gide. Hay nói cách khác, với những tiềm năng tạo nghĩa cùng khả năng bao quát thực tại vô cùng rộng lớn, Bọn làm bạc giả của André Gide đã “trở thành nơi giao lưu hò hẹn của các vấn đề đáp ứng yêu cầu của trí tuệ” Phùng, 2010, tr. 6. Đồng thời, trong tác phẩm, cái tôi hướng ngoại ngày càng bị thu hẹp lại để nhường chỗ cho cái tôi hướng nội xuất hiện với mật độ dần dày đặc hơn, cái tôi theo kiểu “không khao khát cuộc sống vĩnh hằng trên thiên đường, cũng không khao khát cuộc sống hạnh phúc nơi trần thế mà chỉ khao khát sự bình yên trong thẳm sâu tâm hồn nơi bản năng vô thức đang đòi hiện diện” Lê, 2006, tr. 89. Khi tác giả chú trọng vào trước hết là khám phá, sau nữa là khai phá đời sống nội tâm con người với tất cả những vỉa tầng của suy tư day dứt, của cô đơn gào thét, của nỗ lực vẫy vùng, của trạng thái nhiễu tâm, để thoát khỏi ngộ nhận, ảo tưởng. Cũng ở Bọn làm bạc giả, André Gide đã chuyển tải bao thông điệp cuộc sống thông qua phạm trù đam mê. Tuy nhiên, những đam mê trong tác phẩm của ông không phải là đam mê thiêng liêng passions sarées kiểu như chàng Roland trong Trường ca Roland Ở đó đam mê được thể hiện như là một niềm tin được cổ vũ nồng nhiệt, là lòng ham mê chiến đấu lập chiến công lớn của những người anh hùng là hiệp sĩ, là sự tôn thờ danh dự và tình yêu, là lòng trung quân ái quốc tuyệt đối Đinh, 2004, tr. 86. Đó cũng không phải là đam mê trần tục passions profane thường xuất hiện trong các dòng văn học cung đình và văn học trào phúng, được thể hiện dưới dạng những say đắm, khát vọng trong tình yêu, trong đời sống cá nhân của con người. Đam mê trong tác phẩm của André Gide là những đam mê mang tính hủy diệt, tiêu vong sự sống, tàn phá nhân tính con người. 472 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] Vincent sẵn sàng ruồng bỏ người yêu Laura khi cô đang bụng mang dạ chửa chỉ vì một cái cớ duy nhất Không đủ tiền chu cấp cho hai mẹ con mà tiền này chính anh đã nướng sạch trong sòng bạc rồi chạy theo nhân tình mới; và Lilian để cuối cùng giết chết cô khi họ cùng đang ở châu Phi. Đó là những gì gần giống như bản năng sinh vật của nhân vật, thoát ly hoàn toàn với sự sàng lọc của lý trí. Nhấn mạnh thứ bản năng sinh vật này, ngòi bút André Gide phần nào đó xao động khi quanh ông đầy rẫy những con người đang lún sâu vào những đam mê hủy diệt, tự mình tước đoạt vẻ đẹp nhân tính và mọi mối quan hệ giữa người với người đôi khi chỉ còn là sự vị kỷ hay tàn nhẫn. Có lẽ cũng vì vậy mà tác giả André Gide còn được mệnh danh là “kẻ gây bất an”! Khi không khí bi quan phảng phất trong tác phẩm, phải chăng đó chính là lúc ở André Gide phần nào đã vắng bóng niềm tin vào cuộc sống, vào lẽ sống ở đời? Sự thực không hẳn như vậy. Tập trung mô tả những con người mà ở đó, bản năng sinh vật lấn lướt, kéo ghì họ xuống dưới ngưỡng người, một lần nữa, chủ nghĩa nhân đạo lại sáng ngời trong các tác phẩm của André Gide bởi đằng sau sự mô tả ấy là khát vọng, là mong muốn con người được sống đúng với nghĩa “người”. Từ đó, độc giả còn có thể thấy ý thức phân biệt ranh giới giữa sự hình thành tính cách và vấn đề bản năng nguyên thủy basic instinct của con người đã xuất hiện rộng rãi trong hệ tư tưởng nhân loại. Làm cách nào để hạn chế phần con, tăng phần người trong mỗi con người luôn là câu hỏi được đặt ra cho mọi dân tộc ở mọi thời đại khác nhau. Bằng cách khai thác những khía cạnh liên quan đến bản năng của con người, những tác phẩm của André Gide đã tiếp cận được một cách toàn vẹn nhất với “chất người” của con người trước những xô đẩy của hoàn cảnh dựa vào những điều kiện sống mà ở đó nhân cách con người luôn bấp bênh ở trạng thái mất- còn, đồng thời từ những hành vi khai thác tâm trạng của nhân vật khi đang chới với trong ranh giới người - vật dường như là một hằng số được lặp lại nhiều lần trong các sáng tác của André Gide. Đó phải chăng cũng chính là con đường mà tác giả chọn lựa để đến với cuộc đời, đến với những lẽ sinh tồn, đến với những chân lý kép của con người? Với Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân, độc giả cũng có thể thấy ở đó không chỉ đơn thuần là những chuyến đi của nhân vật mà còn là biết bao mảnh ghép đầy sắc màu của câu chuyện cuộc sống Từ thói ích kỷ, gia trưởng của người chồng đến sự cam chịu, hy sinh của người vợ trong gia đình; Từ mối quan hệ cha con đến anh em ruột thịt; Từ Trần Thị Bảo Giang 473 những trải nghiệm trong cùng một chuyến đi đến tình bạn gắn bó như tri kỷ; Từ xa cách đến gần gũi; Từ mơ hồ đến thức tỉnh; Từ hăm hở, hứng khởi đến rệu rã, buông xuôi…Và, đâu đó, ở Nguyễn Tuân, chúng ta còn như bắt gặp cả “sự bất an” dẫu chỉ như thoáng qua theo kiểu của André Gide khi để cho Bạch trong Thiếu quê hương có thú vui muốn được đi đây đó nhưng có lúc độc giả lại bắt gặp anh dằn vặt “Đi để mà đau khổ cả lúc đi lẫn lúc nghỉ”. Có lẽ, tâm trạng mâu thuẫn, bế tắc này của Bạch cũng chính là những mâu thuẫn, bế tắc trong tư tưởng của tác giả Nguyễn Tuân - một kẻ “si tình” với quê hương nhưng lại luôn cảm thấy “thiếu quê hương” bởi quê hương ấy đang đong đầy mất mát khi bị bủa vây bởi đội quân xâm lược cùng bè lũ tay sai. Thử ứng dụng một trong số “năm chìa khóa để hiểu Gide” của Michel 2002 đó là tính chất lưỡng phân của sự duy ngã và sự tưởng tượng, chúng tôi thiết nghĩ có thể khai mở phần nào những tầng ý nghĩa của Thiếu quê hương theo kiểu Nhân vật Bạch, xét ở một góc độ nhất định, chính là một dạng bản ngã thứ hai của tác giả; Nhân vật Bạch đã giúp tác giả cảnh báo tình trạng khủng hoảng, bất an trong đời sống tinh thần, một trong số những căn bệnh phổ biến và trầm kha của con người thời kỳ hiện đại Trạng thái tinh thần kiểu “anorexie” nghĩa là không còn hứng thú, say mê với bất cứ một điều gì, cả mặt thể xác lẫn tinh thần, việc tồn tại chỉ do một thói quen; Nhân vật Bạch thể hiện cuộc tranh đấu mãnh liệt giữa lý trí và dục vọng, giữa nhân cách và bản năng, giữa bản lĩnh và đam mê cuồng vọng, đó cũng là cuộc tranh đấu muôn đời của con người trong suốt hành trình một cuộc đời. Rõ ràng, có thể chắc chắn một điều, với André Gide và Nguyễn Tuân, phạm vi hình thức biểu hiện của tác phẩm đã bị phá vỡ. Sáng tác của họ luôn khơi gợi lòng đam mê, hứng thú ở độc giả bởi mỗi lần tiếp nhận chúng, người đọc lại khám phá thêm nhiều điều mới mẻ, nhiều sự lý thú và những tầng vỉa quặng trong nguồn tài nguyên của sức sáng tạo ấy dường như là vô tận. Và đọng lại, điều mà André Gide đã đạt được trong sáng tác của ông chúng tôi khẳng định ở Nguyễn Tuân cũng vậy đó là tác phẩm mở ra những 474 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] góc độ, những khía cạnh muôn màu của cuộc sống. Những nỗi đau trong tác phẩm không chỉ là nỗi đau của tác giả, sau đó là của độc giả mà còn là những nỗi đau nhân thế. Thế giới mà tác giả tạo ra trong tác phẩm là một dạng thế giới đặc biệt. Một thế giới mà ở đó, người đọc không cần phải định hình những địa danh tương ứng hay truy tìm căn nguyên những sự kiện hoặc nguồn gốc những con người ở đó. Một thế giới theo kiểu “neverland” được xây dựng cốt nhằm thể hiện những chân lý đời thường - những chân lý được rút ra từ đốm lửa nhỏ nhoi, leo lét của lương tri con người. Thế giới ấy cũng là nơi thể hiện một niềm tin đủ đầy hơn muôn vạn niềm tin khác Tin vào sự trường tồn của nhân cách con người. 4. THAY LỜI KẾT Có thể thấy, André Gide không mấy xa lạ với văn học Việt Nam, với công chúng yêu văn học Việt Nam, đặc biệt ngay từ thập niên 30 của thế kỷ XX. Tác giả Phan 1993 đã nhận xét Về văn xuôi thì không ai ảnh hưởng nhiều tới các nhà văn Việt Nam bằng André Gide. Đây là danh sách những nhà văn thụ giáo Gide Nhất Linh trong Đời mưa gió, Đôi bạn, Bướm trắng, Đoạn tuyệt; Khái Hưng trong Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời, Thiếu quê hương; Hoàng Đạo trong Con đường sáng; Huy Cận trong Kinh cầu tự; Xuân Diệu trong Phấn thông vàng…và vô số nhà văn khác. Phan, 1993, tr. 26. Riêng với Nguyễn Tuân, có lẽ không chỉ đơn thuần là sự chịu ảnh hưởng và tiếp nhận André Gide trên bình diện tư tưởng sự giải phóng tư tưởng, giải phóng cá nhân khỏi những ràng buộc của thể chế xã hội bức bối; Mở rộng “phạm vi sống” cho cái tôi đích thực… mà phần nào đậm nét hơn vẫn là những thủ pháp đặc sắc của nghệ thuật tự sự. Trong bài viết “Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide” in trên Tạp chí Văn học, số 4/1998, tác giả Hoàng 1998, tr. 25-29 đã nhận định Trần Thị Bảo Giang 475 Điểm tương đồng đầu tiên là Gide và Nguyễn Tuân rất coi trọng hình thức văn chương, dành tâm lực cho “công việc trau chuốt hình thức” travail de la forme để đạt đến sự trong sáng và súc tích. Nguyễn Tuân đã nói Trong năm giác quan được đem ra là công cụ kiểm nghiệm, cặp mắt soi xuống dòng, trang giữ vai trò cầm trịch trong việc nhận dạng và đánh giá từng bước đi của bộ điệu cho đoạn văn… Có khi lại như chính lòng bàn tay của mình phải sờ lại những góc cạnh câu viết của mình, xem lại có nên cứ gồ ghề chân chất như thế, hay là nên gọt nó tròn trĩnh đi thì nó dễ vào lỗ tai người tiêu thụ hơn… Nguyễn Tuân và André Gide còn có điều vừa giống nhau vừa khác nhau là họ không ngừng đi tìm một lối thoát đúng đắn và tốt đẹp cho đời sống. Hoàng, 1998, tr. 25-29. Như vậy, đặt vấn đề tìm hiểu phương thức tự sự trong Bọn làm bạc giả của André Gide và Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân dưới góc nhìn cấu trúc luận, chúng tôi muốn tái khẳng định Những ảnh hưởng của André Gide đến văn học Việt Nam nói chung, đến Nguyễn Tuân nói riêng là khá rõ nét. Có điều đó có lẽ bởi các tác giả đều gặp nhau ở một điểm Dùng ngòi bút để nói lên tiếng nói trước hết là bênh vực, sau nữa là ca ngợi con người cùng những giá trị đích thực của con người trong cuộc đời. Và mỗi lần tiếp cận với André Gide, với Nguyễn Tuân cùng những sáng tác của họ, những lời bút đàm của cố nhạc sỹ Văn Cao - một “kẻ ngoại đạo” trong lĩnh vực văn học như lại vang vọng Chúng ta đọc một tác giả như đi theo một dòng sông. Dù bắt đầu từ khúc nào, dù ghé vào bến nào, chúng ta đều phải nghĩ là ngược lên nguồn thì đường dài lắm, mà xuôi ra biển thì biển còn xa. Hai điểm đầu và cuối đó đều thấy vô cùng… Cuộc đời và nghệ thuật của nhà thơ nhà văn phải là những dòng sông lớn càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng… Văn, 1994, tr. 153. TÀI LIỆU THAM KHẢO André, G. 2008. Bọn làm bạc giả. Phan. V. T., Dịch giả. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Barthes, R. 1997. Độ không của lối viết. Ngọc, N., Dịch giả. Hà Nội, Việt Nam NXB. Hội Nhà văn. Đặng, Đ. A. 1995. Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo dục. 476 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN] Đinh, R. T. 2004. Một số quan niệm về đam mê trong văn học Pháp từ thời trung cổ đến Balzac. Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 11, 82-91. Hoàng, N. 1998. Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide. Tạp chí Văn học, 4, 25-29. Newton, K. M. 1997. Twentieth century literary theory 2nd ed.. New York, USA St. Martin's Press. Lê, B. H. 2006. Nghệ thuật Franz Kafka. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo dục. Lộc, T. P. 2002. André Gide Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã hội. Lữ, N. H. 1996. Tuyển tập Nguyễn Tuân Tập 1. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Michel, T. 2002. Năm chìa khóa để hiểu Gide. Trong Lộc, T. P. Chủ biên, André Gide, Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã hội. Phan, N. 1993. Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945. Tạp chí Văn học, 4, 24-29. Phùng, T. V. 2010. Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật. Hà Nội, Việt Nam NXB. Tri thức. Richard, A., Chris, G., Ziauddin, S., & Patrick, C. 2006. Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại. Đăng, T. T., Dịch giả. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam NXB. Trẻ. Tôn, M. T. 2002. Nguyễn Tuân, tác phẩm và dư luận. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Trần, S. Đ. 2008. Tự sự học 2nd ed.. Hà Nội, Việt Nam NXB. Đại học Sư phạm. Văn, C. 1994. Mấy ý nghĩ về thơ. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học. Trần Thị Bảo Giang 477 NARRATIVE METHOD IN “LES FAUX-MONNAYEURS” OF ANDRÉ GIDE AND “THIẾU QUÊ HƯƠNG” OF NGUYEN TUAN FROM THE POINT OF VIEW OF STRUCTURALISM Tran Thi Bao Gianga* aThe Faculty of Literature and Cultural Studies, Dalat University, Lamdong, Vietnam *Corresponding author Email giangttb Article history Received July 12th, 2017 Received in revised form September 28th, 2017 Accepted October 02nd, 2017 Abstract André Gide is one of the famous authors of French literature in particular, of the world literature in the twentieth century in general. “Les Faux-mononayeurs”, his only novel, is classified as one of the best novels of the twentieth century. In this novel, André Gide has introduced a new method of narrative through which the real life is described as its multi-faceted complexity and chaos, etc. Therefore, Gide has put a major step in the development of modern literature era. Receiving and learning French literature along with the Western literature, Nguyen Tuan has shared a number of similarities with André Gide. Keywords André Gide; Influences of French literature; Nguyen Tuan; Structuralism; The method of the narrative. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this số quan niệm về đam mê trong văn học Pháp từ thời trung cổ đến BalzacR T ĐinhĐinh, R. T. 2004. Một số quan niệm về đam mê trong văn học Pháp từ thời trung cổ đến Balzac. Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 11, gì chung giữa Nguyễn Tuân và André GideN HoàngHoàng, N. 1998. Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và André Gide. Tạp chí Văn học, 4, thuật Franz Kafka. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo dụcB H LêLê, B. H. 2006. Nghệ thuật Franz Kafka. Hà Nội, Việt Nam NXB. Giáo Gide Đời văn và tác phẩmT P LộcLộc, T. P. 2002. André Gide Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã tập Nguyễn Tuân Tập 1N H LữLữ, N. H. 1996. Tuyển tập Nguyễn Tuân Tập 1. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn chìa khóa để hiểu GideT MichelMichel, T. 2002. Năm chìa khóa để hiểu Gide. Trong Lộc, T. P. Chủ biên, André Gide, Đời văn và tác phẩm. Hà Nội, Việt Nam NXB. Khoa học Xã hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam giai đoạn 1932 -1945N PhanPhan, N. 1993. Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam giai đoạn 1932 -1945. Tạp chí Văn học, 4, thuyết trên đường đổi mới nghệ thuậtT V PhùngPhùng, T. V. 2010. Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật. Hà Nội, Việt Nam NXB. Tri môn chủ nghĩa hậu hiện đạiA RichardG ChrisS ZiauddinC PatrickRichard, A., Chris, G., Ziauddin, S., & Patrick, C. 2006. Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại. Đăng, T. T., Dịch giả. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam NXB. Tuân, tác phẩm và dư luậnM T TônTôn, M. T. 2002. Nguyễn Tuân, tác phẩm và dư luận. Hà Nội, Việt Nam NXB. Văn học.
Tóm tắt tiểu sử của tác giả Nguyễn Tuân, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học của nhà văn / nhà thơ viết này được đăng tại không được copy dưới mọi hình thức. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân được biết đến là một cây bút tiên phong với sự nghiệp sáng tác vô cùng đồ sộ và độc đáo. Con người cũng như sự nghiệp văn học của ông đã để lại rất nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả cho đến ngày nay. 1. Tiểu sử cuộc đời của Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân sinh ngày 10/7/1910 - mất ngày 28/7/1987, hưởng thọ 77 tuổi, ông sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Bạc, Hà Nội còn quê gốc thì ở xã Nhân Mục thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội ngày nay. Cha ông là cụ Nguyễn An Lan- một nhà nho tài hoa, yêu nước bất đắc chí dưới chế độ thực dân, phong kiến, vậy nên từ nhỏ ông đã ít nhiều bị ảnh hưởng bởi tư tưởng và phong cách của cha viết này được đăng tại [free tuts .net] Thời niên thiếu của ông rất khó khăn và cực khổ, gia đình ông không sống một chỗ mà lại di cư đi sinh sống ở rất nhiều tỉnh khác nhau tại miền Trung như Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, và nơi sinh sống lâu nhất là ở Thanh Hóa. Vì sinh ra trong thời thế loạn lạc, đất nước trong cảnh lầm than chia cắt nên Nguyễn Tuân đã ý thức được lòng yêu nước và tinh thần dân tộc từ rất sớm. Năm 1929, khi ông đang học năm cuối cấp tại trường trung học Nam ịnh thì bị đuổi học vì tham gia vào cuộc bãi khóa phản đối giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam. Vài năm sau ông lại bị bắt giam vì vượt biên không giấy phép. Sau khi ra tù, ông bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình với rất nhiều tác phẩm đặc sắc về rất nhiều thể loại như tùy bút, bút ký, truyện ngắn,… ngoài ra ông còn tham gia diễn kịch, đóng phim điện ảnh. Vào năm 1941, ông không may lại bị bắt giam thêm một lần nữa vì liên quan đến những người hoạt động chính trị. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, ông bắt đầu tham gia vào các hoạt động cách mạng, kháng chiến rất sôi nổi và nhiệt tình. Ông dùng văn chương để ngợi ca đất nước và cổ vũ tinh thần cho nhân dân, cùng nhân dân đánh giặc. Trong giai đoạn từ 1948 đến 1957, ông được nắm giữ chức Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam. 2. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân Mặc dù bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1935, nhưng mãi đến 3 năm sau văn học của Nguyễn Tuân mới được đánh giá cao và gây dấu ấn mạnh mẽ trong lòng độc giả. Nổi tiếng nhất đó chính là tác phẩm “Vang bóng một thời” – đây là tác phẩm phác hoạ lại một thời đã qua với những vẻ đẹp truyền thống và đang mất dần đi nhằm bảo tồn những tinh hoa và giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc. Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Tuân đó là Một chuyến đi 1938 Ngọn đèn dầu lạc 1939 Vang bóng một thời 1940 Chiếc lư đồng mắt cua 1941 Tàn đèn dầu lạc 1941 Tùy bút 1941 Thiếu quê hương 1940 Tùy bút kháng chiến và hòa bình 1956 Tùy bút Sông Đà 1960 Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi 1972 Ký 1976 Cảnh sắc và hương vị đất nước 1988 Ký Cô Tô 1965 Nguyễn Tuân mang trong mình một phong cách nghệ thuật rất độc đáo, khác biệt và sâu sắc. Tùy vào từng thời điểm mà phong cách sáng tác lại khác nhau Nếu như trước cách mạng tháng 8 năm 1945, phong cách sáng tác của ông được gói gọn trong một chữ "ngông" với 3 chủ đề chính đó là "Chủ nghĩa xê dịch", “vang bóng một thời” và “đời sống trụy lạc”. Thì sau Cách mạng tháng tám, phong cách sáng tác của ông đã hoàn toàn thay đổi. Lúc này, ông đem ngòi bút của mình để phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc và thường xuyên viết về những đề tài quê hương đất nước, nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất. Tất cả tác phẩm của ông đều mang giá trị nghệ thuật rất cao, mang đến cho người đọc những cảm nhận tinh tế, những rung cảm về vẻ đẹp của con người và văn hóa của đất nước. Nguyễn Tuân còn được biết đến là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông dày công nghiên cứu và phát hiện ra rất nhiều phong cảnh tuyệt mỹ của thiên nhiên, núi rừng trên đất nước chúng ta. Một số tác phẩm nổi tiếng viết về cảnh sắc, hương vị đất nước và linh hồn dân tộc, như Tờ hoa, Tình rừng, Phở, Cây Hà Nội, Cốm, Giò lụa, … Có lẽ thể loại văn học được Nguyễn Tuân yêu thích nhất là tùy bút bởi vì tùy bút sở hữu phong cách tự do, phóng túng như chính con người của ông vậy. Không những đóng góp cho cách mạng, cho nghệ thuật, Nguyễn Tuân còn có đóng góp rất to lớn cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam. Nhờ sở hữu vốn từ rất giàu có, phong phú, đặc biệt là vốn từ Hán-Việt, ông đã kết hợp rất nhuần nhuyễn ngôn ngữ cổ xưa với ngôn ngữ hiện đại để đạt hiệu quả cao, tạo ấn tượng mạnh khi viết văn. Hơn một nửa đời người gắn bó với nghệ thuật, Nguyễn Tuân vẫn luôn hoạt động rất nghiêm túc và luôn nghiêm khắc với chính bản thân mình. Vào năm 1996, ông đã vinh dự được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
thiếu quê hương nguyễn tuân