Trầm Vụn Hương Phai [Tập 4] Bộ phim Trầm Vụn Hương Phai thuộc thể loại phim Cổ Trang Tổng Hợp của Trung Quốc. Bộ phim Truyền hình Trầm Vụn Hương Phai lấy bối cảnh thiên giới nhân gian làm không gian chủ đạo. Chuyện tình nhân duyên cùng với những chuyến phiêu lưu của nàng với ngư tinh Dư Mặc và Ứng Uyên đế quân. Tỷ lệ trầm cảm từ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 13,3%; 24,2%; 10,3%; 12,2%. Sự thiếu quan tâm của bố mẹ, thầy cô làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu ở học sinh. Ngoài ra thường xuyên bị áp lực thi, kiểm tra cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm. Điền số 9 "ảo": Tập nghĩ ra những kế hoạch đơn giản và nhỏ, dễ thực hiện, và lên tiến trình làm theo để đạt được kế hoạch đó. Hết kế hoạch này liền theo kế hoạch khác, đừng để trống thời gian giữa chừng. hay bị trầm cảm. Sự uất giận này đến từ Tóm lại, caffeine có thể giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh trầm cảm, nhưng nó cũng có thể làm cho các triệu chứng tồi tệ hơn. Cần nghiên cứu thêm để xác định tác động của caffeine đối với chứng trầm cảm và các rối loạn tâm trạng khác. Với sự giúp đỡ Việc tạo ra thói quen tập luyện hàng ngày thường phát huy hiệu quả trợ giúp rõ rệt. Luyện tập thể thao thường xuyên kích thích cơ thể gia tăng sản xuất endorfin - hormone gây ra cảm giác hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu đã nhiều ngày mệt mỏi, buồn rầu, chán nản cần cân nhắc và thấu hiểu khi khuyên họ tham gia các hoạt động dễ gây kích thích này. joePxb9. 9 dấu hiệu trầm cảm phổ biến và triệu chứng nguy hiểm cần chú ý 04/04/2023 Làm sao để nhận biết một người đang bị trầm cảm? Những dấu hiệu trầm cảm phổ biến là gì? Trầm cảm là căn bệnh phổ biến trên toàn thế giới, ước tính có khoảng tương đương 280 triệu dân số bị trầm cảm, trong đó 5% ở người lớn, 5,7% ở người trên 60 tuổi. Trầm cảm ở mức nặng có thể dẫn đến tự sát. Hơn người chết vì tự tử mỗi năm, cũng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 ở lứa tuổi 15-29. [1] Trầm cảm là gì? Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất trên thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới WHO thống kê cứ 20 người bình thường có một người từng rơi vào giai đoạn trầm cảm. Phụ nữ có tỷ lệ mắc chứng trầm cảm cao gấp đôi nam giới [2]. Có nhiều yếu tố khác nhau tác động, góp phần làm tâm trạng của một người bị ảnh hưởng kéo dài dẫn đến trầm cảm. [3] Bệnh trầm cảm thường được chẩn đoán cùng với các tình trạng rối loạn tâm thần khác. Trầm cảm khác với những dao động tâm trạng thông thường và những phản ứng cảm xúc ngắn khi đối mặt với khó khăn. Khi bệnh trầm cảm phát triển tới mức độ nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Nó cũng khiến người bệnh làm việc kém năng xuất, học hành trì trệ, mối quan hệ trong gia đình ảnh hưởng tiêu cực. Người bị trầm cảm thường cảm thấy bị xa cách với xã hội, họ mặc cảm và tự ti về bản thân. Các triệu chứng nổi bật nhất của chứng trầm cảm nặng là tâm trạng tồi tệ, buồn sâu sắc, tuyệt vọng kéo dài. Ở giai đoạn trầm cảm nặng thường biểu hiện trầm cảm rõ các triệu chứng đặc trưng nhất. Người bệnh rơi vào vòng suy nghĩ chán nản, mất hứng thú với các hoạt động hàng ngày, kèm theo các vấn đề về ăn, ngủ, năng lượng, sự tập trung và cách nhìn nhận giá trị bản thân. Người bị trầm cảm sẽ có các dấu hiệu trầm cảm trên kéo dài trong 2 tuần hoặc lâu hơn. Những người có tâm trạng tiêu cực chán nản hay buồn trong một khoảng thời gian ngắn như vài giờ, 1 đến 2 ngày không phải là bệnh trầm cảm. Tuy nhiên điều này có thể trở thành mầm mống dẫn đến bệnh trầm cảm. Các sự việc như mất mát hay thay đổi đột ngột có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng trầm cảm. Các giai đoạn trầm cảm có thể được kích hoạt bởi nhiều yếu tố bao gồm sự ra đi của người thân, đổ vỡ trong tình cảm, hôn nhân, thất nghiệp, căng thẳng tài chính, bị bệnh kéo dài, thay đổi môi trường sống… Trầm cảm ảnh hưởng đến sức khỏe bằng cách thay đổi mức độ hoạt động cũng như thay đổi hành vi trong sinh hoạt thường ngày. Trầm cảm thường ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giấc ngủ, thèm ăn hoặc chán ăn hơn, sự tập trung, tâm trạng, mức năng lượng, sức khỏe thế chất và đời sống xã hội. Thông thường những người đang bị trầm cảm cảm thấy khó khăn khi thức dậy, ít động lực, năng lượng, hay cáu kỉnh và buồn. Những điều này xảy ra thường xuyên khiến chất lượng sống của người bệnh bị giảm rất nhiều. 9 dấu hiệu trầm cảm nguy hiểm cần được cảnh báo Dưới đây là 9 dấu hiệu trầm cảm điển hình của bệnh cần được cảnh báo và điều trị sớm [4] Tâm trạng chán nản thường xuyên, gần như mỗi ngày. Giảm quan tâm hay niềm vui với tất cả hoạt động, hay sở thích. Chán ăn, sụt cân hoặc thèm ăn, tăng cân. Mất ngủ thường xuyên. Kích động hoặc thao tác chậm, phản ứng chậm, nói chậm hơn bình thường. Thường xuyên mệt mỏi và mất năng lượng. Có cảm giác bất lực, tội lỗi quá mức, tự thấy bản thân kém cỏi. Suy giảm khả năng tập trung, do dự, khó quyết định mọi thứ. Thường xuyên có ý nghĩ về cái chết, thường xuyên có ý định tự tử. Các dấu hiệu trầm cảm kéo dài có thể ảnh hưởng đến sức khỏe. Mặc dù mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm cảm chưa được thống nhất, nhưng có thể phân độ nghiêm trọng thông qua triệu chứng, thời gian và các suy giảm chức năng cơ thể đi kèm. Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ cho rằng mức độ và triệu chứng của bệnh trầm cảm có mối liên kết [5]. Trầm cảm được chia ra các mức độ bệnh như sau Triệu chứng dưới ngưỡng trầm cảm có ít hơn 5 triệu chứng trầm cảm. Trầm cảm nhẹ có hơn 5 triệu chứng trầm cảm, các triệu chứng làm suy giảm chức năng nhẹ. Trầm cảm vừa phải các triệu chứng trầm cảm có ảnh hưởng đến chức năng cơ thể nhẹ hoặc nặng. Trầm cảm nặng có hầu hết tất cả các triệu chứng trầm cảm, ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động, đời sống, công việc, học tập và sức khỏe. Các triệu chứng có mối liên quan chặt chẽ với mức độ suy giảm chức năng cơ thể, hoạt động ăn, uống, ngủ, độ tập trung… Quy ước theo thời gian, bệnh trầm cảm cũng được chia theo mức độ bệnh. Cấp tính có triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng từ 2 tuần đến dưới 2 năm. Mãn tính triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng kéo dài hơn 2 năm. Trên thực tế, tốt nhất nên xem xét thời gian cụ thể và mức độ kéo dài của các triệu chứng với từng cá nhân cùng mức độ nghiêm trọng của nó. Phân loại dấu hiệu trầm cảm Các triệu chứng trầm cảm có thể phức tạp và khác nhau theo từng đối tượng [6]. Người bị trầm cảm có thể có các triệu chứng về tâm lý hoặc không. Để nhận biết được người bị trầm cảm, ta sẽ dựa trên phân nhóm triệu chứng như sau 1. Triệu chứng trầm cảm tâm lý Một số người khi bị trầm cảm sẽ có triệu chứng tâm lý rõ rệt, với các biểu hiện như Tâm trạng thường xuyên buồn bã. Cảm thấy vô vọng và bất lực. Có lòng tự trọng thấp. Dễ khóc. Cảm thấy tội lỗi. Cáu kỉnh và nổi nóng. Không có động lực và hứng thú với mọi chuyện kể cả sở thích. Rất khó đưa ra quyết định. Cảm thấy lo lắng nhiều đối với mọi việc, kể cả chuyện rất nhỏ. Có ý nghĩ tự tử hoặc suy nghĩ làm tổn thương cơ thể. 2. Triệu chứng trầm cảm thể chất Di chuyển chậm, nói chậm hơn bình thường. Thay đổi khẩu vị, chán ăn, sụt cân, đôi khi bị táo bón. Đau nhức không rõ nguyên nhân. Thiếu năng lượng. Giảm ham muốn tình dục. Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt. Rối loạn giấc ngủ, khó ngủ. 3. Triệu chứng trầm cảm xã hội Không thích hay né tránh tiếp xúc với bạn bè và các hoạt động chung. Không còn hứng thú với sở thích. Gặp rắc rối trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Nguyên nhân gây trầm cảm Không có nguyên nhân duy nhất gây bệnh trầm cảm. Một số người đối mặt với những căng thẳng trong cuộc sống như mất người thân, ly hôn, bệnh tật, mất việc làm, khủng hoảng tài chính… Các nguyên nhân khác nhau có thể kết hợp để gây ra bệnh trầm cảm [6]. Ví dụ bạn đang mệt mỏi và chán nản khi bị bệnh dai dẳng, sau đó lại trải qua một sự kiện buồn như mất người thân, điều này tăng nguy cơ dẫn đến trầm cảm. Dưới đây là những nguyên nhân thường gặp gây bệnh trầm cảm. Rất khó để khiến người trầm cảm thoát khỏi vòng xoáy suy nghĩ tiêu cực. Căng thẳng khi đối diện với các sự kiện buồn, căng thẳng như mất người thân, đổ vỡ mối quan hệ yêu đương, vợ chồng. Khi gặp những tổn thương mất mát, nhiều người trở nên buồn bã, không còn hứng thú gặp gỡ bạn bè, người thân và cố gắng tự giải quyết vấn đề của mình. Tình trạng căng thẳng kéo dài, nếu tâm trạng không được cải thiện rất dễ rơi vào trầm cảm. Nhân cách tính cách tác động rất nhiều đến suy nghĩ. Với một số người khi đứng trước các sự việc căng thẳng có thể không bị trầm cảm nhưng một số người khó thoát ra được suy nghĩ buồn bã và tiêu cực. Người dễ trầm cảm thường quá khắt khe với bản thân, luôn sợ phán xét, mong muốn những gì hoàn hảo nhất. Điều này có thể do gen thừa hưởng từ cha mẹ hoặc ảnh hưởng từ nhỏ. Lịch sử gia đình nếu ai đó trong gia đình từng bị trầm cảm, nhiều khả năng bạn cũng mắc bệnh này. Sinh con một số phụ nữ dễ trầm cảm sau sinh. Những thay đổi về nội tiết tố và thể chất, cơ thể, cũng như gia tăng trách nhiệm, có thể dẫn đến chứng trầm cảm sau sinh. Sự cô đơn cảm giác cô đơn ở một số người bị cắt đứt mối quan hệ khỏi gia đình, bạn bè làm gia tăng nguy cơ trầm cảm. Rượu và ma túy trong những sự kiện buồn, nhiều người cố gắng đối phó bằng cách uống quá nhiều rượu hoặc dùng ma túy. Điều này có thể dẫn đến vòng xoáy trầm cảm. Sử dụng ma túy, rượu, chất kích thích ảnh hướng đến chất hóa học của não, làm tăng nguy cơ trầm cảm. Bệnh tật những người bị bệnh mạn tính, bệnh phải điều trị trong thời gian dài, tái phát nhiều là đối tượng dễ trầm cảm. Một số người bị bệnh nội tiết khiến cơ thể mệt mỏi, giảm ham muốn tình dục từ đó dẫn đến trầm cảm. Điều gì xảy ra nếu bị trầm cảm Trầm cảm và nguy cơ tự sát trầm cảm là yếu chính dẫn đến tự tử [7]. Tuyệt vọng sâu sắc khiến người bệnh nghĩ đến cái chết để thoát khỏi nỗi đau. Người bị trầm cảm thường không cảm nhận được giá trị và ý nghĩa của cuộc sống. Nếu bạn có người thân và bạn bè có các dấu hiệu cảnh báo như nói về việc tự sát hay làm hại bản thân, thể hiện cảm giác tuyệt vọng hay mắc kẹt bởi vấn đề gì đó, có mối bận tâm bất thường đến việc chết, hành động liều lĩnh và nguy hiểm, gọi điện cho người thân để nói lời tạm biệt, sắp công việc theo thứ tự như cho đi tài sản quý giá, giải quyết vấn đề một cách thờ ơ, đột ngột từ người đang suy sụp trở nên bình tĩnh và hạnh phúc… Nhận thấy những dấu hiệu bất thường trên, bạn nên cởi mở nói chuyện, tỏ sự quan tâm chân thành với họ và tìm kiếm người thân giúp đỡ. [8] Tâm lý người bệnh trở nên tồi tệ hơn. Tăng khả năng gặp vấn đề về sức khỏe như chứng mất trí nhớ. Trầm cảm có thể dẫn đến bệnh tiểu đường hoặc đau mãn tính. Nếu nhận thấy bản thân, người thân, bạn bè có các dấu hiệu trầm cảm, triệu chứng bất thường đến tâm lý cần đưa họ đến gặp bác sĩ tâm lý để được tư vấn và điều trị. Trên hết, sự đồng cảm, quan tâm, lắng nghe đến từ gia đình và bạn bè là động lực quan trọng giúp bệnh nhân trầm cảm cải thiện bệnh tốt hơn. Cập nhật lần cuối 1009 18/04/2023 Những dấu hiệu thay đổi trong hành vi cũng có thể là dấu hiệu của trầm cảm nhẹ như giờ giấc ngủ thất thường, chán ăn hoặc thèm ăn. Những người bị trầm cảm nhẹ cũng có thể sử dụng nhiều chất kích thích để cải thiện tâm trạng, chẳng hạn như thuốc lá, ma túy và rượu. Nếu bạn có các dấu hiệu trầm cảm, hãy tìm đến bác sĩ để tìm cách điều trị hiệu quả. Cách điều trị bệnh trầm cảm nhẹ có thể chỉ đơn giản là điều chỉnh thói quen sống. Bạn sẽ cần thay đổi chế độ ăn, giờ giấc đi ngủ và học cách vượt qua áp lực công việc để cân bằng cuộc sống. Điều này cũng bao gồm cả việc cách ly khỏi tivi và mạng xã hội. Cách cải thiện dấu hiệu trầm cảm nhẹ Khi bị trầm cảm ở mức độ nhẹ, bạn có thể cải thiện các dấu hiệu bằng cách điều chỉnh thói quen sống và thực hiện trị liệu nghệ thuật. Điều chỉnh thói quen sống Để điều trị bệnh trầm cảm nhẹ, bạn có thể thử điều chỉnh các thói quen sống sau đây Giúp đỡ người khác Nói chuyện với ai đó Ăn thực phẩm tươi ngon Hít thở không khí trong lành Dậy sớm tập thể dục thường xuyên Ngồi thiền hoặc chỉ ngồi yên trong 10 phút Giới hạn thời gian dành cho máy tính hoặc xem tivi, đặc biệt là vào buổi tối Bạn có thể tập yoga chữa bệnh trầm cảm tại nhà, vừa giúp giải tỏa stress rất tốt lại thư giãn toàn thân. Đây là một trong những bộ môn lý tưởng dành cho những người đang phải sống chung với chứng trầm cảm đấy! Thực hiện trị liệu nghệ thuật Nhiều người nhận ra các sở thích có thể giúp họ vượt qua chứng trầm cảm nhẹ. Một nghiên cứu còn cho biết những người đã từng có thú vui sáng tạo thường “tích cực, có nhiều hứng thú và ít stress hơn”. Vì thế, bạn có thể thử áp dụng trị liệu nghệ thuật để cải thiện trầm cảm. Khi thực hiện trị liệu nghệ thuật, bạn sẽ xem nghệ thuật như một cách để khám phá suy nghĩ và cảm xúc của mình. Nhờ thể hiện được cảm xúc và suy nghĩ, bạn sẽ dễ dàng đối mặt và giải quyết nỗi buồn cũng như vượt qua chứng trầm cảm dễ dàng hơn. Bạn có thể thử các hình thức trị liệu nghệ thuật như vẽ tranh, cắt dán ảnh, nghệ thuật số, nhiếp ảnh, dệt may… Các lời khuyên trên có thể khó áp dụng với một vài đối tượng tùy theo độ tuổi, điều kiện sức khỏe hay một số yếu tố khác. Nếu như trẻ mắc bệnh trầm cảm ở tuổi dậy thì cần được giảm tải áp lực ở trường học thì chứng trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh lại cần tìm giải pháp can thiệp đến hormone. Khi lối sống lành mạnh không mang đến hiệu quả như mong muốn, bạn nên cân nhắc đến cách chữa bệnh trầm cảm nhẹ bằng liệu pháp điều trị tâm lý. Cách chữa trầm cảm nhẹ bằng liệu pháp tâm lý Những chấn động tâm lý có thể dẫn đến trầm cảm nhẹ. Nếu bạn thuộc trường hợp này và các dấu hiệu trầm cảm không quá nghiêm trọng, bác sĩ có thể chỉ định liệu pháp tâm lý. Liệu pháp tâm lý gồm 4 dạng sau đây 1. Trị liệu tư vấn Counseling Các cuộc trò chuyện với một chuyên gia tâm lý có thể giúp bạn xác định nguyên nhân trầm cảm. Các chuyên gia tâm lý không hướng dẫn bạn làm gì cụ thể mà chỉ đề xuất thay đổi một số điều để cảm thấy thoải mái hơn. 2. Trị liệu giữa các cá nhân Interpersonal Therapy – IPT Một số người cảm thấy khó khăn khi giao tiếp với người khác và điều này có thể dẫn đến sự cô lập và trầm cảm. Liệu pháp tâm lý IPT được thiết kế nhằm giúp làm cho các mối quan hệ dễ dàng hơn. 3. Trị liệu tâm động học Psychodynamic Therapy Để thực hiện liệu pháp này, chuyên gia tâm lý sẽ yêu cầu một người nói lên suy nghĩ của mình để tìm cách xác định các kiểu suy nghĩ hoặc hành vi có vấn đề. Bạn có thể không nhận ra rằng những điều này có thể gây khó chịu và trầm cảm. 4. Trị liệu hành vi nhận thức Cognitive Behavioral Therapy – CBT Thay vì tập trung vào các nguyên nhân trầm cảm, liệu pháp tâm lý CBT có thể đưa ra những cách thiết thực để đối phó với vấn đề. Điều này có thể liên quan đến việc đánh lạc hướng tâm trí khỏi những suy nghĩ đau buồn. Liệu pháp tâm lý CBT là một lựa chọn phổ biến vì nhiều người thường thấy sự cải thiện trong vài tuần và liệu pháp này có xu hướng yêu cầu một cam kết ngắn hạn. Thực tế, không phải ai cũng có điều kiện điều trị tâm lý khi cuộc sống thường ngày có quá nhiều thứ phải lo đến mức chúng ta dường như quên chăm sóc sức khỏe tinh thần. Thậm chí, nhiều người còn không hề biết rằng mình đang có những dấu hiệu của bệnh trầm cảm nhẹ. Sự chịu đựng của bạn cũng giống như giọt nước tràn ly, đến lúc nào đó sẽ chảy lênh láng với những dòng cảm xúc hỗn độn chất chồng bao nhiêu năm tháng… Bạn có muốn quay trở lại là một phiên bản vui vẻ và hoạt bát như thuở nào còn là cô cậu học trò hồn nhiên? Ngay cả khi không có ai sẵn lòng cho bạn một chiếc vé quay trở lại tuổi thơ, bạn vẫn có thể tự lèo lái con tàu của mình đi về phía có ánh sáng rạng rỡ. Bạn hãy bỏ lại phía sau bóng tối muộn phiền bằng cách tập sống lành mạnh cả trong suy nghĩ lẫn hành động nhé! Thảo Viên HELLO BACSI Theo các nghiên cứu, người ta ước đoán năm 2020, gánh nặng bệnh tật toàn cầu do trầm cảm sẽ đứng thứ hai và đến năm 2030 sẽ đứng thứ nhất trong các bệnh lý gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người [1]. Không những làm gánh nặng về kinh tế mà trầm cảm còn làm giảm chất lượng cuộc sống, làm giảm hiệu suất lao động và làm tăng nguy cơ tử vong. Ở Pháp, mỗi năm, khoảng 11000 người chết do tự sát thành công và có khoảng người có toan tự sát, mà trong số đó khoảng 78% người trải qua trầm cảm [2]. Một số tài liệu khác thấy rằng, khoảng 90% những người tự sát thành công và những người toan tự sát có rối loạn tâm thần, mà trong số đó 50%-70% được chẩn đoán trầm cảm [3].DỊCH TỄ HỌCTheo WHO, ít nhất 15% dân số có biểu hiện trầm cảm rõ rệt ở một giai đoạn nào đó trong cuộc sống. Khoảng 5% người trong thực hành đa khoa có trầm cảm điển hình và 5% có trầm cảm nhẹ [4]. Theo DSM V, tỷ lệ trầm cảm điển hình trong 12 tháng ở Mỹ xấp xỉ 7%, tỷ lệ mắc từ 18 đến 29 tuổi cao gấp ba lần người trên 60 tuổi. Tỷ lệ nữ giới trầm cảm gấp 1,5 đến 3 lần nam giới ở giai đoạn đầu tuổi trưởng thành [5].Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Viết Nghị, Nguyễn Đăng Dung và Nguyễn Viết Thiêm năm 1997 ở một xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và một phường của thành phố Hà Nội khoảng dân có sử dụng bộ câu hỏi CIDI Composite International Diagnostic Interview kết hợp với khám lâm sàng và các test sàng lọc CES Center for Epidemiologic Study, Beck cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm trong nhân dân là 2-5% [6]. Tại Việt Nam khi nghiên cứu dịch tễ học trên 8 vùng địa lý năm 2014, ước có khoảng hơn 2% dân số được chẩn đoán trầm cảm. Trầm cảm gặp nhiều ở nữ hơn nam, tỷ lệ nữnam là 21 và gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt từ 25-44 [7].CHẨN ĐOÁNTrầm cảm là một rối loạn khí sắc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần, ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ức chế vận động. Tại Việt Nam, trầm cảm được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ICD-10 năm ICD-10, giai đoạn trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc kéo dài ít nhất 2 tuần, chẩn đoán dựa trên các triệu chứng [8], [9]Các triệu chứng chủ yếuKhí sắc trầmMất quan tâm thích thúGiảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt độngCác triệu chứng phổ biếnGiảm sút sự tập trung và sự chú ýGiảm sút tính tự trọng và lòng tự tinCó ý tưởng bị tội và không xứng đángNhìn vào tương lai ảm đạm và bi quanCó ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sátRối loạn giấc ngủĂn ít ngon miệngCác triệu chứng cơ thểMất quan tâm hoặc hứng thú với những hoạt động mà bình thường vẫn làm bệnh nhân hứng các phản ứng cảm xúc đối với những sự kiện hoặc hành động mà bình thường có thể gây ra những phản ứng cảm giấc vào lúc sáng sớm hơn ít nhất 2 giờ so với thường cảm nặng lên vào buổi bằng chứng khách quan về sự chậm chạp tâm thần vận động hoặc kích động được nhận thấy hoặc do người khác kể lại.Giảm nhiều cảm giác ngon cân 5% hoặc nhiều hơn trọng lượng cơ thể trong tháng trước đó.Giảm đáng kể hưng phấn tình độ trầm cảmGiai đoạn trầm cảm nhẹ có 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu và 2 trong 7 triệu chứng phổ đoạn trầm cảm vừa có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu và ít nhất 3 trong 7 triệu chứng phổ đoạn trầm cảm nặng có 3 triệu chứng chủ yếu và ít nhất 4 trong 7 triệu chứng phổ biến. Nếu các triệu chứng đặc biệt nặng và khởi phát rất nhanh thì có thể làm chẩn đoán này trước 2 tuần. Giai đoạn này có thể có hoặc không có các triệu chứng loạn loại trầm cảmTrầm cảm nội sinh đa nhân tố, môi trường, gen, sinh hóa não…Trầm cảm tâm sinh; Các sang chấn tâm lý trong cuộc sống, môi trường, nhân cách tiền bệnh lýTrầm cảm thực tổn tổn thương thực tổn tại não hoặc có bệnh lý nội khoa mạn tính tim mạch, đái thường, suy thận…Trầm cảm do chất gây nghiện sử dụng chất ATS, cần sa, rượu… ĐIỀU TRỊ1. Kế hoạch điều trị chungĐiều cốt lõi trong điều trị trầm cảm là tối ưu hóa theo cá thể. Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị trầm cảm với ưu, nhược điểm khác nhau và hiệu quả khác Hóa dược trị liệuHiện nay, có nhiều phương pháp trị liệu hoá dược lý hiệu quả đối với trầm cảm, tuy nhiên tất cả đều cần có thời gian để đạt được tác dụng tối ưu, thường sau 4 đến 6 tuần. Một liệu trình điều trị với cơn trầm cảm đầu tiên khoảng 6 tháng đến 9 tháng. Khi lựa chọn thuốc điều trị, bác sỹ cần tiên lượng được khả năng tuân thủ điều trị của người trầm cảm và gia đình, bệnh nội khoa đi kèm và các yếu tố có khả năng gây tăng tác dụng phụ của thuốc. Có thể sử dụng các thuốc chống trầm cảm và phối hợp thêm thuốc chống loạn thần khi giai đoạn nặng có triệu chứng loạn thần [10], [11], [12].Thuốc chống trầm cảm ba vòng TCA Amitritylin...Thuốc ức chế MAO MAOISSRIs Fluoxetine, sertraline, paroxetine, fluvoxamine, citalopram và escitalopramNaSSa MirtazapineSNRIs venlafaxine, desvenlafaxin, duloxetineMột số thuốc khác Bupropion, SARIs trazodone, nefazodoneCác thuốc chống loạn thần Olanzapine, Risperione, Quetiapine, Sulpiride Clozapine… điều trị phối hợp khi bệnh nhân trầm cảm nặng hoặc có triệu chứng loạn cả các thuốc trên người trầm cảm cần đi khám và tuân thủ uống thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Không nên tự sử dụng thuốc không đúng liều lượng, thời gian…3. Vật lý trị liệuLiệu pháp sốc điện ECT- Electroconvulsive therapy hiệu quả với trầm cảm có loạn thần, ý tưởng hành vi tự sát và trầm cảm kháng trị. Tránh sử dụng khi có bệnh tim mạch, bệnh lí cơ thể nặng, bệnh lí thực tổn tại não, bệnh nhân động kinh, phụ nữ có thai, trẻ em dưới 16 thích từ xuyên sọ TMS - Transcranial magnetic stimulation sử dụng các xung lực từ trường gây kích thích não khu trú, không gây ảnh hưởng đến nhận thức. Năm 2008, FDA đã chấp nhận kích thích từ xuyên sọ để điều trị trầm cảm đơn cực điển hình và trầm cảm kháng Tâm lí trị liệuCó rất nhiều liệu pháp, tuy nhiên 2 liệu pháp sau được chứng minh có hiệu quả hơn pháp nhận thức hành viLiệu pháp cá nhânKẾT LUẬNTrầm cảm là một rối loạn khá thường gặp trong chuyên ngành tâm thần. Không những vậy, với các chuyên khoa khác trong y học hiện đại không phải là ít. Ngày nay, với sự phát triển sâu rộng các hình thức phương tiện truyền thông, con người có thể tiếp cận hiểu biết về rối loạn này khá đầy đủ. Tuy nhiên, vì một số lý do như sợ kỳ thị, tâm lý giấu bệnh, không dám đối diện, người trầm cảm chưa được hiểu biết thăm khám đầy đủ. Trầm cảm sẽ giảm thiểu gánh nặng bệnh tật cho cá nhân và xã hội nếu được hiểu đúng hiểu đủ, phát hiện điều trị kịp gặp các biểu hiện như trong hướng dẫn, nên đến sớm các cơ sở y tế để được thăm khám chính xác và toàn diện giúp người trầm cảm tăng chất lượng cuộc sống, giảm các yếu tố nguy cơ. Biên Tập Hương LêMinh Họa Vy Trần Nguồn1. Greden 2001. The burden of recurrent depression causes, consequences, and future prospects. J Clin Psychiatry, 62, 5–92. Courtet P. 2010. [Suicidal risk in recurrent depression]. L’Encephale,36 Suppl 5, Dong M., Wang Li Y., et al. 2017. Prevalence of suicidal behaviors in patients with major depressive disorder in China A comprehensive meta-analysis. J Affect Disord, 225, 32–394. Nguyễn Kim Việt 2005. Một số vấn đề trong điều trị dược lý các rối loạn trầm cảm. Tập báo cáo và bài giảng rối loạn trầm cảm, Bộ môn Tâm thần trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, American Psychiatric Association 2013. Depressive Disorders. Diagnostic and statistical manual of mental disorders DSM-5. 5th edition, American Psychiatric Association, Washington, 155– Nguyễn Viết Thiêm 2002. Trầm cảm trong thực hành tâm thần học. Sức khỏe tâm thần cộng đồng - Tài liệu dành cho đào tạo sau đại học, Bộ môn Tâm thần trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, 17– Trần Hữu Bình 2016. Giai đoạn trầm cảm. Giáo trình bệnh học tâm thần, Bộ môn Tâm thần trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản Y học, 59– World Health Organization 1992. Depressive episode. The ICD-10 classification of mental and behavioural disorders clinical descriptions and diagnostic guidelines. Geneva World Health Organization, 99– Tổ chức Y tế Thế giới 1992, ICD-10, Phân loại các rối loạn tâm thần và hành vi. Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn Thornhill et al 2011. Mood disorders. Psychiatry. Sixth Edition, Wolters Kluwer Health, Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia, 55– Sadock Sadock Ruiz P. et al 2015. Mood disorders. Kaplan & Sadock’s synopsis of psychiatry behavioral sciences/clinical psychiatry. 11th edition, Wolters Kluwer, Philadelphia, 257– Stahl 2013, Stahl’s Essential Psychopharmacology Neuroscientific Basis and Practical Application, Cambridge University Press. Trầm cảm có triệu chứng loạn thần là một thể trầm cảm nặng. Cùng với những triệu chứng điển hình của trầm cảm như buồn bã, mất niềm tin, lo ngại mình mắc nhiều loại bệnh,... bệnh nhân trầm cảm nặng còn bị hoang tưởng và ảo giác, tự buộc tội chính bản thân. Khoảng 10 - 15% người trưởng thành sẽ trải qua ít nhất một cơn trầm cảm nặng trong một giai đoạn nào đó của cuộc sống. Rối loạn trầm cảm nặng có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào, phổ biến nhất là từ 20 - 50 tuổi và trung bình là khoảng 40 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh đang ngày càng gia tăng ở nhóm người dưới 20 tuổi mà các chuyên gia cho rằng có thể liên quan đến sử dụng rượu hoặc ma tuý. Trầm cảm thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, đặc biệt trầm cảm nặng cao đáng kể ở những người có mối quan hệ xã hội kém hoặc đã ly hôn, góa bị trầm cảm nặng, người bệnh có biểu hiện sút cân, giảm hoặc mất chức năng tình dục, mất ngủ, nhiều biểu hiện rối loạn thần kinh và các rối loạn về cơ thể. Trong đó, loạn thần là các triệu chứng ảo giác và hoang tưởng ở nhiều mức độ và hình thức khác nhau. Ví dụ, người bệnh có những thay đổi đáng kể về khí sắc và mất hứng thú với mọi chuyện, trở nên quan tâm và lo ngại quá mức về bệnh tật, cảm thấy mình vô dụng và tội lỗi, ám ảnh về ý tưởng tự tử, hoặc chậm chạp về cả vận động lẫn suy nghĩ, loạn cảm giác... Các triệu chứng trên không phải gây ra do một chất kích thích gây nghiện, một bệnh lý cụ thể hay một sự kiện đau buồn mất mát nào đó. 2. Chẩn đoán và điều trị trầm cảm nặng có loạn thần Chẩn đoán Rất khó để chẩn đoán phân biệt trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần với tâm thần phân liệtTâm thần phân liệt Triệu chứng trầm cảm thường sau biểu hiện loạn thần. Bệnh nhân tâm thần phân liệt thường trải qua các giai đoạn trầm cảm thứ phát, đặc biệt sau khi xuất hiện loạn thần cảm có biểu hiện loạn thần Các rối loạn khí sắc thường theo sau hoặc xảy ra đồng thời với triệu chứng loạn thần. Người bệnh có những giai đoạn hoạt động bình thường xen giữa các cơn loạn thần, kết hợp với rối loạn khí đối với tình trạng loạn cảm xúc phân liệt, bệnh nhân sẽ trải qua các giai đoạn loạn thần mà không biểu hiện rối loạn khí sắc, nhưng việc chẩn đoán cũng khá khó khăn. Dùng thuốc điều trị trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần Điều trị Dùng thuốc và điện trị liệu sẽ đặc biệt hữu ích trong điều trị rối loạn trầm cảm, bao gồm triệu chứng loạn thần lẫn triệu chứng cơ thểThuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc Bệnh nhân có các triệu chứng cơ thể ví dụ chán ăn, mất ngủ, chậm chạp sẽ đáp ứng với thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc tốt hơn người có nhiều triệu chứng loạn thần chống loạn thần Ở bệnh nhân trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần hoặc lo âu, thuốc chống loạn thần có hiệu quả khá tốt, nhất là khi dùng kết hợp với những loại thuốc khác hoặc biện pháp choáng điện do dạng bệnh này thường ít đáp ứng với thuốc chống trầm cảm đơn lẻ. Các triệu chứng có thể cải thiện rõ rệt sau dùng thuốc bao gồm hoang tưởng, ảo giác, lú lẫn hay lo âu quá trị liệu Tạo ra cơn co giật bằng cách cho dòng điện chạy qua não một cách an toàn và hiệu quả. Thông thường, một đợt điều trị sẽ bao gồm 6 - 10 lần choáng điện với tần suất 3 - 4 lần/ tuần. Ưu điểm của phương pháp này là đáp ứng nhanh trong vòng vài ngày, thích hợp với các triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng đe dọa đến tính chung bệnh nhân trầm cảm nặng đến mức có biểu hiện loạn thần thường khó đáp ứng với điều trị và cũng rất dễ tái phát. Hơn nữa, triệu chứng loạn thần cũng là một trong những yếu tố tiên lượng xấu của bệnh trầm cảm. Vì vậy, cần phải phát hiện sớm trầm cảm có kèm theo loạn thần không, bệnh nhân có tư tưởng hoặc hành vi tự sát hay không để có biện pháp xử lý kịp dõi website Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec để nắm thêm nhiều thông tin sức khỏe, dinh dưỡng, làm đẹp để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người thân yêu trong gia đình. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Tìm hiểu về tình trạng vú tiết sữa Galactorrhea Công dụng thuốc Diouf Hóa chất nào của não có liên quan đến thuốc chống trầm cảm? – Mất hứng thú đáng kể trong hầu hết mọi việc, mọi hoạt động hằng ngày bao gồm cả hoạt động tình dục. – Giảm cân đáng kể dù không ăn kiêng, hoặc tăng cân trong một số trường hợp, thay đổi khẩu vị có thể giảm hoặc tăng khẩu vị. – Rối loạn giấc ngủ mất ngủ hoặc ngủ nhiều – Chậm chạp hoặc dễ kích động. – Cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng. – Cảm thấy tự ti, vô dụng, hoặc mặc cảm tội lỗi – Giảm khả năng tập trung, hoặc thiếu quyết đoán. – Có suy nghĩ đến cái chết hoặc sợ chết, ý nghĩ tự tự, lên kế hoạch hoặc cố gắng tự tử. – Lo âu Ngoài ra, trầm cảm còn có thể có biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể về tim mạch hồi hộp, đánh trống ngực, hô hấp khó thở, thở dài, tiêu hoá khô miệng, ợ hơi, đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy,…, đi tiểu nhiều lần, đổ mồ hôi, hoặc đau đầu… Đôi khi bạn cũng có thể có các dấu hiệu và biểu hiện trầm cảm khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu nhận biết bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Khi nào bạn cần gặp bác sĩ? Nếu bạn bắt gặp những dấu hiệu trầm cảm kể trên, hãy đặt lịch hẹn với bác sĩ càng sớm càng tốt. Bệnh có khả năng cao trở nặng nếu không sớm được chữa trị, đồng thời kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tử vong. Nếu bạn chưa sẵn sàng đi chữa trị, hãy tâm sự với bạn bè, người thân, chuyên gia chăm sóc sức khỏe hoặc một người mà bạn tin tưởng. Nếu bạn có những ý nghĩ tự tử, hãy tìm sự giúp đỡ ngay lập tức. Bạn nên thực hiện các bước sau Tìm tới bạn thân hoặc người mình yêu quý Liên hệ tới ai đó trong cộng đồng đức tin của bạn Đặt lịch hẹn với bác sĩ, chuyên gia tư vấn tâm lý… Nếu bạn đã tự làm mình bị thương hay thử tự tử, gọi 115 hay dịch vụ cấp cứu tại địa phương ngay lập tức. Nếu biết người thân của bạn đang bị nguy hiểm do ý định tự tử hoặc có hành vi tự tử, bạn tìm cách nói chuyện với người trầm cảm để can ngăn và đảm bảo luôn có người ở cạnh họ. Sau đó, bạn nhanh chóng gọi 115 hay dịch vụ cấp cứu ngay lập tức. Nếu có khả năng, bạn hãy đưa họ tới phòng cấp cứu gần nhất. Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân gây trầm cảm là gì? Bệnh trầm cảm có thể xảy ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Chúng có thể kể đến như Di truyền Các nghiên cứu tần suất bệnh trên nhiều gia đình, các cặp sinh đôi hoặc con nuôi chỉ ra rằng, tần suất bệnh liên quan mật thiết đến yếu tố di truyền. Nếu có cha hoặc mẹ mắc trầm cảm, tỷ lệ mắc trầm cảm ở con sẽ khoảng 10-25%, nguy cơ sẽ tăng gấp đôi nếu cả cha và mẹ đều mắc trầm cảm. Càng nhiều thành viên trong gia đình mắc trầm cảm, nguy cơ sẽ càng cao hơn. Chất dẫn truyền thần kinh theo một số nghiên cứu, chất dẫn truyền thần kinh trong não người mắc bệnh trầm cảm có sự khác biệt so với người khỏe mạnh bình thường. Stress người thân yêu qua đời, những khó khăn trong mối quan hệ tình cảm hay bất cứ tình huống gây stress nào cũng có thể gây ra bệnh trầm cảm. Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh Trầm cảm thường bắt đầu ở tuổi vị thành niên khoảng 15-30 tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Số lượng bệnh nhân nữ được chẩn đoán trầm cảm nhiều hơn nam, nguyên nhân có liên quan đến sự khác biệt về hormone, ảnh hưởng của việc sinh sản, khác biệt về các sang chấn tâm lý xã hội … Những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm, bao gồm Độ tuổi Trầm cảm có thể gặp ở mọi lứa tuổi, 50% khởi phát trong độ tuổi từ 20-50, trung bình là 40 tuổi. Hiện nay, tần suất mắc bệnh ở các đối tượng dưới 20 tuổi ngày càng tăng. Quanh thời kỳ mang thai và sinh con Trầm cảm sau sinh là khái niệm cũ. Hiện tại, y học dùng thuật ngữ trầm cảm chu sinh, tức là có thể xuất hiện cả trong thời kỳ mang thai, hoặc sau khi sinh. Có tiền sử mắc các rối loạn lo âu, các rối loạn nhân cách hay rối loạn sau sang chấn. Lạm dụng bia rượu hoặc chất kích thích trong thời gian dài Mắc bệnh nặng hay bệnh mãn tính như ung thư, tiểu đường đái tháo đường, bệnh tim, bệnh lý thần kinh Dùng một số loại thuốc như thuốc chữa cao huyết áp hay thuốc ngủ, thuốc an thần…mà không đúng theo chỉ định của bác sĩ hãy bàn với bác sĩ của bạn trước bắt đầu sử dụng hoặc khi ngưng bất kỳ thuốc nào. Những sang chấn hay căng thẳng, như bị lạm dụng về thể xác và tình dục, mất đi người mà mình yêu thương, mối quan hệ khó khăn hay vấn đề về tài chính. Có họ hàng ruột thịt mắc bệnh trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, nghiện rượu hay có hành vi tự sát. Điều trị hiệu quả Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ. Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán trầm cảm? Thông thường, bác sĩ sẽ chẩn đoán bệnh trầm cảm từ các triệu chứng, dấu hiệu và tiền sử bệnh trước đây. Đồng thời có thể sử dụng các thang điểm để đánh giá mức độ nặng của bệnh. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể yêu cầu thực hiện các xét nghiệm tổng quát xét nghiệm máu, chức năng gan, thận, đánh giá chức năng tuyến giáp,…, các xét nghiệm hình ảnh học khi cần thiết CT, MRI để phân biệt và loại trừ các bệnh lý khác có thể gây ra các triệu chứng bạn đang gặp, cũng như chuẩn bị tốt cho quá trình điều trị. Cách vượt qua trầm cảm Những phương pháp điều trị bệnh trầm cảm thường bao gồm thuốc, nói chuyện với một chuyên viên trị liệu hoặc bác sĩ tâm lý và phương pháp sốc điện. Liệu pháp tâm lý giúp thoát khỏi trầm cảm Các phương pháp tâm lý trị liệu sẽ dạy cho bạn những cách suy nghĩ và cư xử mới, thay đổi các thói quen để thoát khỏi trầm cảm. Liệu pháp này còn giúp bạn thấu hiểu và vượt qua những khó khăn trong các mối quan hệ hoặc những tình huống khiến bạn bị trầm cảm hoặc làm cho bệnh bớt trầm trọng hơn. Liệu pháp tâm lý có thể sử dụng trên những bệnh nhân trầm cảm mức độ nhẹ. Đối với các bệnh nhân trầm cảm mức độ trung bình và nặng, khuyến cáo hàng đầu vẫn nên sử dụng thuốc chống trầm cảm. Dùng thuốc Các thuốc được dùng là thuốc chống trầm cảm. Một số thuốc phổ biến như escitalopram, paroxetine, sertraline, fluoxetine và citalopram, fluvoxamin. Đây là các chất ức chế serotonin có chọn lọc SSRI. Các loại thuốc khác là venlafaxine, duloxetine, thuộc nhóm SNRI- thuốc ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine. Ngoài ra, một số thuốc khác cũng được sử dụng trong điều trị trầm cảm như thuốc chống trầm cảm 3 vòng, mirtazapine, trazodone, bupropion,…Các loại thuốc chống trầm cảm này có thể có các tác dụng phụ như Đau đầu, choáng váng, buồn nôn, nôn Các tác dụng phụ trên tim mạch rối loạn nhịp,… Tiêu chảy, táo bón, khô miệng. Đổ mồ hôi, run. Tăng cân, chán ăn hoặc ăn nhiều. Khó ngủ và căng thẳng, mệt mỏi Kích động hoặc bồn chồn, lo lắng Tác dụng phụ tình dục rối loạn cương, giảm hứng thú, xuất tinh sớm,… Các tác dụng phụ này có thể xuất hiện khác nhau ở mỗi đối tượng, thường sẽ giảm và mất dần trong vòng 1-2 tuần. Nếu như các triệu chứng trên không giảm hoặc tăng lên, cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ. Bạn phải hết sức lưu ý khi sử dụng những loại thuốc trên vì chúng có thể khiến một số người dùng đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên và những bệnh nhân đang bị kích động có ý nghĩ tự tử hoặc cố tự tự trước khi thuốc thực sự có tác dụng. Một số thuốc giúp làm tăng giấc ngủ và cảm giác thèm ăn có thể được kê toa cho những bệnh nhân mắc các triệu chứng liên quan, nhưng thường phải mất khoảng 2-3 tuần trước khi các thuốc này có tác dụng. Liệu pháp choáng điện Đối với bệnh trầm cảm nghiêm trọng, hoặc cần đáp ứng nhanh không thể chữa trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý. Bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp choáng điện. Tuy nhiên liệu pháp này có thể gây ra các tác dụng phụ như lú lẫn hoặc mất trí nhớ, thường là chỉ trong ngắn hạn. Chế độ sinh hoạt phù hợp Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của trầm cảm? Thay đổi thói quen sinh hoạt theo những gợi ý dưới đây sẽ giúp bạn hạn chế diễn tiến của bệnh, bao gồm Đừng tự cô lập mình Đơn giản hóa cuộc sống Tập thể dục thường xuyên Ăn uống đầy đủ dinh dưỡng Học cách thư giãn và kiểm soát căng thẳng Không nên đưa ra các quyết định quan trọng khi bạn đang cảm thấy chán nản Gọi bác sĩ nếu các triệu chứng nặng hơn Gọi bác sĩ nếu bạn gặp tác dụng phụ khi dùng thuốc Gọi bác sĩ ngay nếu bạn có ý định tự tử hoặc ý định giết hoặc làm hại người khác Gọi bác sĩ ngay nếu bạn có các triệu chứng loạn thần như nghe thấy âm thanh nói chuyện khi ở một mình, hoặc nhìn thấy những hình ảnh lạ ma, quỷ,..mà người khác không thấy, hoặc có triệu chứng hoang tưởng như luôn tin rằng có ai đó đang theo dõi mình, đang làm hại mình…

trầm cảm tập 4